CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh là yếu tố kích thích sản xuất kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và tạo đà cho sự phát triển của xã hội. Cạnh tranh đã đem lại cho thị trường và cho đời sống xã hội một diện mạo mới, linh hoạt, đa dạng và ngày càng phát triển, đồng thời cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội mà trước đây người ta chỉ tìm thấy trong sách vở, như phá sản, kinh doanh gian dối, cạnh tranh không lành mạnh.
Tuy nhiên, các khái niệm về cạnh tranh đến nay vẫn chưa thống nhất, mỗi tác giả với mỗi cách tiếp cận khác nhau đều đưa ra các khái niệm khác nhau. Theo định nghĩa của từ điển Kinh doanh của Anh năm 1992, trích trong Đặng Vũ Huân (2004) thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Samuelson (1995) lại định nghĩa trong cuốn Kinh tế học của mình rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường”. Cùng quan điểm trên, “cha đẻ” của chiến lược cạnh tranh, Michael E.Porter (1980) cho rằng: “Cạnh tranh là việc giành lấy thị trường.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có được”. Như vậy, cạnh tranh là qui luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường. Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt. Kết quả của cạnh tranh sẽ có một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường trong khi một số doanh nghiệp khác tồn tại và phát triển hơn nữa.
Có lập luận cho rằng, khi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 trên thị trường đạt đến một ngưỡng cạnh tranh nào đó, các doanh nghiệp chiến thắng trong cuộc ganh đua đạt được vị thế vững chắc trên thị trường, còn những doanh nghiệp thất bại phải rút lui hoặc phải dựa vào những doanh nghiệp lớn để phát triển, lúc đó cạnh tranh sẽ tự giảm bớt và dần dần không còn tồn tại. Tuy nhiên, luận điểm này không phù hợp với quy luật phát triển của xã hội. Xã hội phát triển không ngừng, sự độc quyền hay chiếm vị trí thống lĩnh của một hay một nhóm doanh nghiệp chỉ mang tính tạm thời chứ không bao giờ bất biến, bởi ngay lập tức sẽ xuất hiện những đối thủ cạnh tranh mới trên thị trường để thay thế. Do đó, cạnh tranh sẽ làm cho doanh nghiệp năng động hơn, nhạy bén hơn trong việc nghiên cứu, nâng cao chất lượng sản phẩm giá cả và các dịch vụ sau bán hàng nhằm tăng vị thế của mình trên thương trường, tạo uy tín với khách hàng và mang lại nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Qua các góc nhìn trên, có thể khái quát về cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh là sự ganh đua một cách nghiêm túc và gay gắt giữa các tổ chức, các doanh nghiệp để giành lấy điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu cũng như chiến lược kinh doanh nhất định như doanh thu, lợi nhuận, thị phần và vị thế trên thị trường”. Khái niệm lợi thế cạnh tranh Những lợi thế được doanh nghiệp tạo ra và sử dụng cho cạnh tranh thì được gọi là lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh còn được hiểu như là các đặc điểm hay các biến số của sản phẩm hoặc nhãn hiệu, mà nhờ có chúng doanh nghiệp tạo ra một số tính trội hơn, ưu việt hơn so với những đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Lợi thế cạnh tranh được coi là bên ngoài khi chúng dựa trên chiến lược phân biệt sản phẩm, hình thành nên giá trị cho người mua, hoặc bằng cách giảm chi phí sử dụng, hoặc bằng cách tăng khả năng sử dụng.
Lợi thế này tạo cho doanh nghiệp "Quyền lực thị trường". Lợi thế cạnh tranh bên trong dựa trên tính ưu việt của doanh nghiệp trong việc làm chủ chi phí sản xuất. Nó tạo nên giá trị cho người sản xuất bằng cách tạo ra cho doanh nghiệp một giá thành thấp hơn so với người cạnh tranh chủ yếu. Một doanh nghiệp được xem là có lợi thế cạnh tranh khi tỷ lệ lợi nhuận của nó cao hơn tỷ lệ bình quân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 trong ngành.
Và doanh nghiệp có một lợi thế cạnh tranh bền vững khi nó có thể duy trì tỷ lệ lợi nhuận cao trong một thời gian dài. Trong các nghiên cứu của mình, Michael E.Porter đã đề cập đến hai loại lợi thế cạnh tranh cơ bản ở cấp độ vi mô (doanh nghiệp, tổ chức) là chi phí thấp (giá thấp hơn đối thủ khi lợi ích dành cho người mua giống nhau) và khác biệt hóa (cung cấp lợi ích vượt trội so với đối thủ khiến người mua trả giá cho sản phẩm mình cao hơn), kết hợp với phạm vi hoạt động của doanh nghiệp sẽ tạo ra ba chiến lược cạnh tranh tổng quát: Chiến lược dẫn đầu về chi phí thấp, chiến lược khác biệt hóa và chiến lược tập trung gồm hai biến lợi thế cạnh tranh như hình 1. LỢI THẾ CẠNH TRANH Chi phí thấp Khác biệt hóa 1. Dẫn đầu về chi Mục tiêu rộng 2.
Khác biệt hóa PHẠM VI CẠNH phí TRANH 3A. Tập trung Mục tiêu hẹp vào chi phí vào khác biệt hóa Hình 1.1: Ba chiến lược tổng quát tạo lợi thế cạnh tranh bền vững Nguồn: Michael E.Porter (1985, trang 12) Bên cạnh đó, để tạo lợi thế cạnh tranh bền vững, Barney & Hesterly (2007) đưa ra cơ cấu VRIO như một công cụ hiệu quả để phân tích môi trường nội bộ của doanh nghiệp. Thuật ngữ VRIO đại diện cho bốn câu hỏi cần đặt ra để xác định tiềm năng canh tranh: Câu hỏi về giá trị (Value): Doanh nghiệp có thể khai thác cơ hội hoặc hóa giải nguy cơ từ bên ngoài bằng tài nguyên/nguồn lực này? Câu hỏi về sự hiếm có (Rarity): Tài nguyên/nguồn lực này có đang được kiểm soát bởi chỉ một số ít doanh nghiệp cạnh tranh? Câu hỏi về sự khó bắt chước (Imitability): Các doanh nghiệp có gặp bất lợi đáng kể về chi phí nếu muốn đạt được, phát triển hoặc sao chép tài nguyên/nguồn lực này? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Câu hỏi về tổ chức (Organization): Doanh nghiệp có sẵn sàng và có khả năng khai thác các tài nguyên/nguồn lực giá trị, hiếm có và khó bắt chước này? Nếu doanh nghiệp nào có những tài nguyên/nguồn lực nào thỏa bốn điều kiện trên (gọi là năng lực cốt lõi), thì doanh nghiệp đó tự tin về khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho mình. Các tài nguyên/năng lực cần đánh giá bao gồm cả hữu hình (tài chính, công nghệ, tổ chức,…) lẫn vô hình (khả năng sáng tạo, danh tiếng,…).
Kết quả kết hợp bốn tiêu chí có thể được biểu diễn trong bảng 1.1: Kết quả kết hợp bốn tiêu chí VRIO Có giá Hiếm Khó bắt Tổ chức Kết quả về mặt Kết quả về mặt trị? có? chước? sẵn sàng cạnh tranh kinh tế khai thác Không Không Bất lợi thế Dưới trung bình Có Không Cân bằng lợi thế Trung bình Có Có Không Lợi thế tạm thời Trên trung bình Có Có Có Có Lợi thế bền vững Trên trung bình Nguồn: Barney & Hesterly (2007, trang 63) 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh Khái niệm năng lực cạnh tranh được nhắc đến rất nhiều nhưng đến nay khái niệm này vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất. Bởi lẽ năng lực cạnh tranh cần phải đặt vào điều kiện, bối cảnh phát triển của đất nước trong từng thời kỳ. Do đó, quan điểm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng có nhiều sự khác biệt.
Theo quan điểm của Michael E.Porter (1990) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, có chi phí thấp, hiệu quả cao nhằm tăng lợi nhuận”. Về quan điểm khi nói rằng năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh, tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng: “Năng lực cạnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp”. Và tác giả Trần Sửu (2006) cũng có ý kiến tương tự: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”. Như vậy, “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng các nguồn lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm – dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường ”.
Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, để có thể tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải tạo cho mình khả năng chống chọi lại các thế lực cạnh tranh một cách có hiệu quả nhất, có thể nói tính quyết định của năng lực cạnh tranh đối với sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp ngày càng rõ nét. Do vậy, các doanh nghiệp phải không ngừng tìm tòi các biện pháp phù hợp và liên tục đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh, vươn lên chiếm được lợi thế cạnh tranh so với đối thủ thì mới có thể phát triển bền vững được. Bởi suy cho cùng, mục đích cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là mang lại càng nhiều lợi nhuận, khi đó nâng cao năng lực cạnh tranh tại doanh nghiệp được xem như là một hoạt động không thể thiếu trong định hướng phát triển và nó góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ nhằm đem lại lợi ích riêng cho doanh nghiệp mình mà nó còn góp phần vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.