Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Công Ty Cổ Phần Bánh Kẹo Hải Hà

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueb nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo hải hà, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2010

144
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2. Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh

1.3. Vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.4. Các tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.5. Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.5.1. Môi trường kinh tế

1.5.2. Môi trường luật pháp, chính trị

1.5.3. Khả năng gia nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềm ẩn

1.5.4. Nhân tố các đơn vị cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp

1.5.5. Nhân tố khách hàng

1.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ

2.1. Khái quát về Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà

2.2. Quá trình hình thành và phát triển

2.3. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà

2.4. Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà

2.4.1. Đặc điểm về sản phẩm bánh kẹo

2.4.2. Đặc điểm thị trường tiêu thụ

2.4.3. Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà

2.4.4. Đặc điểm về khách hàng

2.4.5. Đặc điểm về đối thủ cạnh tranh

2.4.6. Đặc điểm về tài chính

2.4.7. Đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà

2.4.7.1. Về sản phẩm
2.4.7.2. Về hoạt động Marketing
2.4.7.3. Về thời gian và không gian
2.4.7.4. Đánh giá chung

2.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

3.1. Thách thức đối với Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

3.2. Định hướng giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà

3.2.1. Mở rộng liên kết với các công ty trong nước

3.2.2. Định hướng chiến lược kinh doanh lâu dài đối với Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà

3.2.3. Nâng cao năng suất lao động thông qua đổi mới công nghệ và nâng cao trình độ người lao động

3.2.4. Ứng dụng thương mại điện tử vào kinh doanh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà

3.2.5. Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà

3.2.5.1. Đào tạo bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực
3.2.5.2. Hoàn thiện công tác phát triển đại lý, chiến lược phân phối sản phẩm
3.2.5.3. Nâng cao năng lực công nghệ
3.2.5.4. Nâng cao chất lượng sản phẩm
3.2.5.5. Hiện đại hoá hệ thống tổ chức, quản lý của doanh nghiệp

3.2.6. Tài chính doanh nghiệp

3.2.7. Tăng cường công tác quảng cáo, xúc tiến bán hàng và các loại dịch vụ để kích thích sức mua của thị trường

3.2.8. Phát triển thị phần của doanh nghiệp

3.2.9. Kiến nghị đối với nhà nước

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Năng Lực Cạnh Tranh Công Ty Bánh Kẹo Hải Hà

Năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà là một yếu tố quan trọng trong bối cảnh thị trường hiện nay. Công ty đã có những bước tiến đáng kể trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc cải tiến sản phẩm và tối ưu hóa quy trình sản xuất. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua để duy trì và phát triển vị thế trên thị trường.

1.1. Định Nghĩa Năng Lực Cạnh Tranh Trong Ngành Bánh Kẹo

Năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng của công ty trong việc cung cấp sản phẩm chất lượng cao với giá cả hợp lý. Điều này không chỉ giúp công ty thu hút khách hàng mà còn tạo ra lợi nhuận bền vững.

1.2. Vai Trò Của Năng Lực Cạnh Tranh Đối Với Doanh Nghiệp

Năng lực cạnh tranh không chỉ giúp công ty tồn tại mà còn phát triển trong môi trường kinh doanh khốc liệt. Nó quyết định đến khả năng chiếm lĩnh thị trường và duy trì sự phát triển lâu dài.

II. Thách Thức Đối Với Năng Lực Cạnh Tranh Của Công Ty Bánh Kẹo Hải Hà

Công ty bánh kẹo Hải Hà đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Sự gia tăng của các đối thủ cạnh tranh và sự thay đổi trong nhu cầu của người tiêu dùng là những yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh.

2.1. Cạnh Tranh Gay Gắt Từ Các Đối Thủ

Sự xuất hiện của nhiều công ty mới trong ngành bánh kẹo đã tạo ra áp lực lớn lên Hải Hà. Công ty cần phải có những chiến lược phù hợp để giữ vững thị phần.

2.2. Thay Đổi Nhu Cầu Người Tiêu Dùng

Người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng và sự đa dạng của sản phẩm. Công ty cần phải nắm bắt xu hướng này để đáp ứng nhu cầu thị trường.

III. Phương Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Công Ty Bánh Kẹo Hải Hà

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, Công ty bánh kẹo Hải Hà cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Từ việc cải tiến quy trình sản xuất đến việc phát triển sản phẩm mới, tất cả đều cần được thực hiện đồng bộ.

3.1. Đổi Mới Công Nghệ Sản Xuất

Công ty cần đầu tư vào công nghệ mới để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc áp dụng công nghệ hiện đại sẽ giúp giảm chi phí sản xuất và tăng tính cạnh tranh.

3.2. Tăng Cường Hoạt Động Marketing

Hoạt động marketing hiệu quả sẽ giúp công ty tiếp cận được nhiều khách hàng hơn. Cần xây dựng các chiến dịch quảng cáo hấp dẫn để thu hút sự chú ý của người tiêu dùng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh

Việc áp dụng các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho Công ty bánh kẹo Hải Hà. Doanh thu và thị phần của công ty đã có sự tăng trưởng đáng kể trong thời gian qua.

4.1. Kết Quả Từ Việc Đổi Mới Sản Phẩm

Công ty đã cho ra mắt nhiều sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. Điều này đã giúp tăng cường sự hiện diện của thương hiệu trên thị trường.

4.2. Tăng Trưởng Doanh Thu Nhờ Chiến Lược Marketing

Chiến lược marketing hiệu quả đã giúp công ty tăng trưởng doanh thu. Các chương trình khuyến mãi và quảng cáo đã thu hút được nhiều khách hàng mới.

V. Kết Luận Về Năng Lực Cạnh Tranh Công Ty Bánh Kẹo Hải Hà

Nâng cao năng lực cạnh tranh là một quá trình liên tục và đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng từ phía Công ty bánh kẹo Hải Hà. Với những giải pháp đã được triển khai, công ty có thể tự tin hơn trong việc đối mặt với các thách thức trong tương lai.

5.1. Tương Lai Của Công Ty Trong Ngành Bánh Kẹo

Công ty cần tiếp tục đổi mới và cải tiến để duy trì vị thế cạnh tranh. Việc nắm bắt xu hướng thị trường sẽ giúp công ty phát triển bền vững.

5.2. Định Hướng Chiến Lược Dài Hạn

Công ty cần xây dựng chiến lược dài hạn để phát triển bền vững. Điều này bao gồm việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo hải hà

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trong giai đoạn vừa qua. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. 5 CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.

Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh 1.1 Cạnh tranh Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, .; thường xuyên được nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về “cạnh tranh”, cụ thể như sau: - Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi ”[4]. - Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành.

Cạnh tranh có vai tró rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Nó buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học công nghệ, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế. Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền ở đó hoạt động sản xuất, thị thường trì trệ và kém phát triển. 6 - Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.

Cạnh tranh cụ thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. - Theo từ điển kinh doanh: (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình [23]. - Cạnh tranh sẽ đem lại lợi ích cho người này và sự thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc độ lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực (chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn v.) - Trong quan hệ kinh tế cạnh tranh là sự đấu tranh giữa những chủ thể trong việc thực hiện sản phẩm, dịch vụ nhằm chiếm lĩnh thị trường ở mức cao nhất, giành điều kiện tiêu thụ có lợi nhất và tối đa hoá lợi nhuận [18]. Từ những định nghĩa trên có thể rút ra nhận định chung sau đây: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.

Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích, đối với người sản xuất - kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. 7 Cạnh tranh là quy luật tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp bắt buộc phải chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải luôn không ngừng tiến bộ để giành được ưu thế tương đối so với đối thủ. Nếu như lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh thì cạnh tranh bắt buộc họ phải tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả cao nhất nhắm thu được lợi nhuận tối đa.

Kết quả cạnh tranh sẽ loại bỏ được các doanh nghiệp yếu kém và giúp phát triển làm ăn có hiêu quả. Ở Việt Nam, cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế, cạnh tranh được thừa nhận là một quy luật kinh tế khách quan và được coi như là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức điều hành kinh doanh của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao.

Như vậy, năng lực canh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đấy là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… một cách riêng biệt mà đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng lĩnh vực, cùng một thị trường. 8 Có quan điểm cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh,… Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e chưa đủ, bởi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định.

Thực tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Như vậy, “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm – dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường ”. Năng lực cạnh tranh thể hiện ở việc làm tốt hơn với các công ty so sánh (các đối thủ) về doanh thu, thị phần, khả năng sinh lời và đạt được thông qua các hành vi chiến lược, được định nghĩa như là một tập hợp các hành động tiến hành để tác động tới môi trường nhờ đó làm tăng lợi nhuận công ty, cũng như bằng những công cụ marketing khác. Nó cũng đạt được thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm mà sự sáng tạo sản phẩm là những khía cạnh rất quan trọng của quá trình cạnh tranh.

Trong môi trường cạnh tranh, từng chủ thể kinh tế thể hiện vị thế của mình so với các chủ thể khác. Vị thế đó, dựa trên những ưu thế nhất định về các điều kiện sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Sức cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, khả 9 năng cạnh tranh đều phản ánh vị thế cạnh tranh của các chủ thể kinh tế, vị thế đó là những điều kiện để các chủ thể kinh tế tham gia vào hoạt động cạnh tranh. Những quan niệm trên cho thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên hai tiêu chí chủ yếu là thị phần và lợi nhuận.

Những tiêu chí này chỉ đánh giá trạng thái “tĩnh” của ngành (doanh nghiệp hoặc sản phẩm) trong một thời điểm, trong khi đó cạnh tranh là một quá trình mang tính “động”, vì vậy khi phân tích cạnh tranh, người ta thường bổ sung vào một số yếu tố “động” khác như mức độ ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, vòng đời sản phẩm v. Trên cơ sở phân tích đó, các nhà kinh doanh có thể đưa ra những chiến lược kinh doanh phù hợp với thị trường để duy trì và phát huy vị thế của mình trên thị trường hoặc đưa ra những biện pháp phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra. Một chủ thể có sức cạnh tranh cao là chủ thể có lợi thế, biết tạo ra lợi thế để thu được lợi nhuận cao hơn so với các chủ thể khác. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là cái hiện hữu trong sản phẩm, việc phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thường được tiến hành đồng thời bằng 3 phương pháp: (1) đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tính năng, giá cả, sự tiện ích, mẫu mã v.), (2) đánh giá trực tiếp thị trường (doanh số bán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối v.), (3) điều tra xã hội học, chủ yếu qua phiếu thăm dò khách hàng (sự thoả mãn nhu cầu, sự nhận biết tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu v.

Sau đó so sánh các tiêu chí đó với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trường, tại cùng thời điểm để xác định năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác động vào quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vượt trội” so 10 với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh hoặc làm tăng thêm sức mạnh cho sản phẩm, làm cho “tính trội” của nó ở mức tốt hơn, cao hơn trên thị trường tiêu thụ. Nói cách khác: nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là sử dụng một số yếu tố tác động nhằm khắc phục những tồn tại được coi là trở ngại làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm, đồng thời hoàn thiện những nhân tố làm tăng tính trội của nó so với đối thủ khác, nhằm làm cho thị phần của sản phẩm tăng lên so với thị phần của đối thủ cạnh tranh. Vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Cạnh tranh có thể đưa đến lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc độ toàn xã hội cạnh tranh luôn có tác động tích cực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ