Tổng quan nghiên cứu

Thị trường bán lẻ Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ghi nhận tốc độ tăng trưởng doanh thu thương mại hàng năm từ 15% đến 20%, đạt mốc 44 tỷ USD vào năm 2007 và tiếp tục tăng trưởng trên 30,7% trong 11 tháng đầu năm 2008. Khu vực doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ đóng vai trò trụ cột khi đóng góp từ 25% đến 28% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP), đồng thời tạo ra 49% việc làm phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn và thu hút khoảng 25% đến 26% tổng lực lượng lao động của cả nước. Tuy nhiên, sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11/01/2007 và thực hiện cam kết mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ phân phối cho doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài từ ngày 01/01/2009, các đơn vị bán lẻ nội địa phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn đa quốc gia có tiềm lực tài chính hùng hậu như Metro Cash & Carry, Big C hay Parkson.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện toàn diện thực trạng năng lực cạnh tranh, phân tích các điểm nghẽn nội tại về vốn, mặt bằng, công nghệ và trình độ quản trị của các doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa, đánh giá tác động từ các cam kết mở cửa thị trường của Việt Nam, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao sức cạnh tranh của khối doanh nghiệp này. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010 trên phạm vi cả nước, đặc biệt đối chiếu sâu tại hai trung tâm thương mại lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn để cải thiện các chỉ số tài chính cốt lõi như tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và thúc đẩy tỷ trọng phân phối hiện đại từ mức khiêm tốn 16% lên các mức cao hơn trong cơ cấu lưu chuyển hàng hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter nhằm xác định cường độ cạnh tranh trong ngành bán lẻ thông qua 5 nhân tố: áp lực từ nhà cung cấp, áp lực từ khách hàng mua buôn và mua lẻ, mối đe dọa từ các đối thủ tiềm ẩn gia nhập thị trường, sự đe dọa của hàng hóa dịch vụ thay thế và mức độ đối đầu trực diện giữa các doanh nghiệp hiện hữu trong nội bộ ngành. Bên cạnh đó, mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter được tích hợp để mổ xẻ các hoạt động trực tiếp như logistics đầu vào, bán hàng, dịch vụ hậu mãi cùng các hoạt động hỗ trợ như phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực và mua sắm nhằm tối ưu hóa biên giá trị gia tăng cho doanh nghiệp bán lẻ.

Các khái niệm nền tảng được định nghĩa chuẩn xác theo khung pháp lý Việt Nam và thông lệ quốc tế. Doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ được xác định theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình không quá 300 người, bán hàng hóa tiêu dùng trực tiếp cho cá nhân và hộ gia đình. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì thực lực nội tại để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng với chi phí thấp hơn hoặc chất lượng khác biệt hóa so với đối thủ. Mô hình thương hiệu bán lẻ được tiếp cận qua cấu trúc đa nhân tố bao gồm trải nghiệm tại cửa hàng, phân loại sắp xếp hàng hóa, truyền thông đại chúng, chính sách giá và địa điểm kinh doanh. Hệ thống chỉ tiêu tài chính định lượng bao gồm ROA, ROE, hệ số khả năng thanh toán nhanh và hệ số thanh toán ngắn hạn được áp dụng để đo lường sức khỏe tài chính doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích các quy luật vận động của thị trường bán lẻ trong điều kiện mở cửa thương mại. Nguồn dữ liệu sơ cấp được trích xuất từ cuộc khảo sát diện rộng do Viện Nghiên cứu Thương mại thuộc Bộ Công Thương tiến hành vào tháng 10/2007 trên 617 doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ, cùng mẫu phân tích chuyên sâu gồm 450 doanh nghiệp phản hồi đầy đủ về cơ sở vật chất, mặt bằng, tài chính và kho bãi trên địa bàn Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng có chủ đích theo ngành hàng kinh doanh (bao gồm 11 nhóm ngành hàng như kinh doanh tổng hợp, lương thực thực phẩm, hàng may mặc, điện tử, đồ nội thất, văn phòng phẩm, dược phẩm, vật liệu xây dựng, phương tiện đi lại, phân bón vật tư nông nghiệp và xăng dầu). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh đối chứng và phân tích tỷ số tài chính là nhằm phản ánh khách quan khoảng cách năng lực giữa các quy mô doanh nghiệp, kiểm chứng sự bất đối xứng thông tin và nhận diện đúng các rào cản thực tế của hệ thống bán lẻ nội địa trong timeline chuyển giao cam kết WTO từ năm 2000 đến năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ còn ở mức thấp. Số lao động bình quân là 21 người trên mỗi doanh nghiệp, trong đó số lao động có trình độ từ trung cấp trở lên chỉ đạt bình quân 7 người, tương ứng tỷ lệ 35,5%. Phân theo ngành nghề, nhóm kinh doanh hàng điện tử có tỷ lệ lao động qua đào tạo cao nhất với 47,1%, trong khi nhóm hàng may mặc, túi xách, giày dép chỉ đạt 19,9%. Tại hai đô thị lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, quy mô lao động bình quân là 18 người trên một doanh nghiệp nhưng tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn đạt trên 39%.

Thứ hai, tiềm lực vốn và tài sản cố định của khối bán lẻ nội địa rất hạn chế. Giá trị tài sản bình quân của các doanh nghiệp khảo sát năm 2007 đạt 11,173 tỷ đồng và nguồn vốn bình quân đạt 12 tỷ đồng. Đáng chú ý, 55% nhà phân phối trong nước có quy mô vốn dưới 100 triệu đồng, 31% có vốn dưới 500 triệu đồng và chỉ có 14% sở hữu quy mô vốn trên 100 tỷ đồng. Ngành kinh doanh đồ nội thất có giá trị tài sản và nguồn vốn bình quân cao nhất lần lượt là 43,504 tỷ đồng và 44,5 tỷ đồng; ngược lại ngành phân bón, thuốc trừ sâu chỉ đạt 2,545 tỷ đồng tài sản và 2,5 tỷ đồng nguồn vốn.

Thứ ba, cơ sở hạ tầng thương mại và mặt bằng kinh doanh gặp nhiều bất cập. Có 56% doanh nghiệp bán lẻ phải thuê mặt bằng kinh doanh (trong đó 38% thuê hoàn toàn), tỷ lệ này tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh lên tới trên 70%. Diện tích kinh doanh bán lẻ bình quân của một điểm bán lẻ tại hai thành phố lớn chỉ đạt 170 m2, thấp hơn nhiều so với mức bình quân chung 305 m2 của cả nước. Về hệ thống kho bãi, chỉ có 240 trong tổng số 450 doanh nghiệp sở hữu kho bảo quản (tổng số 378 kho), với tỷ lệ kho đạt chuẩn kỹ thuật là 66,5%. Trong đó, ngành thuốc tân dược đạt tỷ lệ kho chuẩn 100%, xăng dầu đạt 86%, còn ngành phân bón thuốc trừ sâu chỉ đạt 45,4%.

Thứ tư, kênh bán lẻ truyền thống vẫn chiếm ưu thế áp đảo với 84% thị phần lưu chuyển hàng hóa trong năm 2006, trong khi kênh hiện đại chỉ chiếm 16%. Mặc dù số lượng siêu thị tăng từ 200 cơ sở năm 2005 lên 400 cơ sở năm 2009 và trung tâm thương mại tăng từ 30 lên 60 điểm, các liên doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dù chỉ chiếm dưới 10% số lượng cơ sở nhưng đã chi phối tới 60% lượng hàng hóa lưu thông qua kênh phân phối hiện đại.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của những hạn chế trên xuất phát từ sự chuyển đổi mang tính tự phát từ mô hình hợp tác xã mua bán và cửa hàng mậu dịch quốc doanh thời kỳ bao cấp sang cơ chế thị trường. Phong cách kinh doanh của các chủ thể bán lẻ nội địa vẫn mang nặng tâm lý đại lý buôn bán nhỏ lẻ, phụ thuộc nguồn hàng vào nhà cung ứng và chịu biên lợi nhuận mỏng. Hơn 60% cơ sở kinh doanh chưa ứng dụng công nghệ thông tin vào quản trị bán hàng và chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp thiết lập được trang tin điện tử ở mức cơ bản, dẫn đến năng suất lao động và khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng bị tụt hậu rõ rệt.

Các dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ hình cột so sánh mức độ hài lòng về mặt bằng kinh doanh giữa các phân ngành thương mại và bảng ma trận cơ cấu nguồn vốn bình quân phân theo 11 nhóm ngành hàng. Khi so sánh với các báo cáo quốc tế về bán lẻ Việt Nam của tổ chức OECD năm 2000 và RNCOS năm 2009, kết quả nghiên cứu khẳng định tính linh hoạt cao của các đơn vị bán lẻ nhỏ trong việc thích ứng nhu cầu tiêu dùng bản địa, nhưng đồng thời chỉ rõ điểm yếu cốt tử về tính liên kết chiến lược dọc giữa Nhà sản xuất, Nhà phân phối và Nhà bán lẻ, khiến doanh nghiệp Việt Nam dễ bị tổn thương khi các tập đoàn FDI gia tăng thị phần.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc công tác quản trị và đào tạo nguồn nhân lực bán lẻ chuyên nghiệp. Các doanh nghiệp cần phối hợp với Hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam xây dựng chương trình bồi dưỡng kỹ năng trưng bày hàng hóa, văn hóa phục vụ và quản trị chuỗi cung ứng hiện đại cho đội ngũ nhân viên. Mục tiêu là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn từ mức 35,5% lên đạt tối thiểu 60% trong giai đoạn 2011-2015, đồng thời thiết lập chính sách đãi ngộ gắn liền với hiệu suất kinh doanh để giảm tỷ lệ dịch chuyển lao động sang các khối doanh nghiệp ngoại.

Thứ hai, đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ và phương thức bán hàng. Doanh nghiệp bán lẻ cần đầu tư đồng bộ phần mềm quản lý kho, hệ thống thanh toán mã vạch POS và triển khai kênh bán hàng trực tuyến song song với cửa hàng truyền thống. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin trong vận hành từ dưới 40% lên 75% trước năm 2015, giúp tiết giảm chi phí lưu thông và rút ngắn thời gian giao dịch với người tiêu dùng.

Thứ ba, xây dựng chuỗi liên minh chiến lược giữa Nhà sản xuất, Nhà phân phối và Nhà bán lẻ. Các chủ thể kinh doanh bán lẻ cần chủ động liên kết thành các hợp tác xã bán lẻ hoặc mô hình đại lý nhượng quyền quy mô lớn nhằm tập hợp nguồn lực tài chính, gom đơn hàng số lượng lớn để thương lượng mức chiết khấu đầu vào giảm từ 5% đến 10% từ các nhà máy sản xuất, hạn chế tình trạng cạnh tranh phá giá nội bộ thiếu lành mạnh.

Thứ tư, kiến nghị Bộ Công Thương và chính quyền các địa phương hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ mặt bằng và hạ tầng thương mại. Cơ quan quản lý nhà nước cần công khai quy hoạch mạng lưới bán lẻ, ưu tiên quỹ đất thương mại nội đô cho các doanh nghiệp trong nước thuê dài hạn với chi phí ổn định, đồng thời hỗ trợ vốn vay ưu đãi để nâng cấp 100% kho bảo quản hàng hóa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn trước năm 2015. Đồng thời, cần áp dụng linh hoạt công cụ Kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) theo đúng cam kết WTO để kiểm soát lộ trình mở điểm bán lẻ thứ hai trở đi của các tập đoàn 100% vốn nước ngoài.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Các chủ sở hữu và cấp quản lý điều hành tại các doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ. Luận văn cung cấp khung tham chiếu về cơ cấu vốn, giải pháp tối ưu diện tích điểm bán và phương thức chuyển đổi từ cửa hàng tạp hóa truyền thống sang mô hình chuỗi cửa hàng tiện lợi đạt chuẩn văn minh thương mại.

Nhóm 2: Các chuyên viên hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương, Sở Công Thương các tỉnh thành và cơ quan xúc tiến thương mại. Dữ liệu thực chứng về 450 doanh nghiệp và các phân tích cam kết WTO là cơ sở vững chắc để xây dựng đề án phát triển hạ tầng thương mại và thiết kế gói trợ cấp kỹ thuật phù hợp cho khối kinh tế tư nhân.

Nhóm 3: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Thương mại quốc tế. Công trình là tài liệu học thuật giá trị về phương pháp khảo sát định lượng ngành bán lẻ, ứng dụng các mô hình chiến lược của Michael Porter và hệ thống đánh giá chỉ số tài chính doanh nghiệp giai đoạn mở cửa kinh tế.

Nhóm 4: Các hiệp hội ngành hàng, tổ chức xúc tiến thương mại và nhà cung cấp sản phẩm tiêu dùng trong nước. Luận văn gợi mở các giải pháp kết nối chuỗi cung ứng hàng Việt, nâng cao năng lực đàm phán hợp đồng phân phối và bảo vệ thương hiệu bán lẻ nội địa trước áp lực thâm nhập của hàng ngoại nhập.

Câu hỏi thường gặp

Cam kết WTO đã tác động trực tiếp như thế nào đến thị trường bán lẻ Việt Nam?

Theo cam kết WTO, từ ngày 01/01/2008 Việt Nam đã bãi bỏ hạn chế 49% vốn góp của đối tác nước ngoài trong liên doanh thương mại, và từ ngày 01/01/2009 chính thức cho phép thành lập doanh nghiệp bán lẻ 100% vốn nước ngoài. Điều này tạo điều kiện cho các tập đoàn bán lẻ quốc tế thâm nhập mạnh mẽ, làm gia tăng áp lực cạnh tranh trực diện đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong các doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ đạt mức bao nhiêu?

Theo số liệu điều tra thực tế trên 617 doanh nghiệp bán lẻ, tỷ lệ lao động có trình độ từ trung cấp trở lên chỉ đạt 35,5%, bình quân 7 người trên tổng số 21 lao động mỗi doanh nghiệp. Trong đó, ngành may mặc và giày dép có tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp nhất với 19,9%, còn ngành điện tử đạt tỷ lệ cao nhất là 47,1%.

Thực trạng mặt bằng kinh doanh của các nhà bán lẻ tại các đô thị lớn ra sao?

Tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trên 70% doanh nghiệp bán lẻ phải thuê mặt bằng kinh doanh với diện tích bình quân mỗi điểm bán chỉ đạt 170 m2, nhỏ hơn rất nhiều so với mức bình quân chung 305 m2 của cả nước. Đa số doanh nghiệp nội thành đều phản ánh tình trạng thiếu thốn diện tích bán hàng, thiếu bãi đỗ xe và thiếu kho dự trữ hàng hóa tại chỗ.

Doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ đóng góp thế nào vào các chỉ số kinh tế vĩ mô?

Khối doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ đóng góp từ 25% đến 28% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam. Ngoài ra, khu vực này tạo ra khoảng 49% việc làm phi nông nghiệp tại các vùng nông thôn và giải quyết sinh kế cho 25% đến 26% tổng lực lượng lao động của toàn nền kinh tế.

Điểm yếu lớn nhất về mặt công nghệ của hệ thống bán lẻ vừa và nhỏ là gì?

Hơn 60% đơn vị kinh doanh bán lẻ chưa ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản trị bán hàng và kiểm soát chuỗi cung ứng, đồng thời chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp xây dựng được trang tin điện tử ở mức độ đơn giản. Điều này làm gia tăng chi phí giao dịch, giảm hiệu quả quản lý hàng tồn kho và hạn chế khả năng mở rộng thị phần.

Kết luận

  • Đóng góp tỷ trọng lớn từ 25% đến 28% GDP và giải quyết 49% việc làm phi nông nghiệp nông thôn nhưng khối bán lẻ vừa và nhỏ có điểm xuất phát vốn thấp với 55% đơn vị có vốn dưới 100 triệu đồng.
  • Chất lượng nhân sự chưa đồng đều với tỷ lệ lao động qua đào tạo bình quân chỉ đạt 35,5% và trên 60% doanh nghiệp chưa ứng dụng công nghệ thông tin trong vận hành thương mại.
  • Hệ thống cơ sở vật chất còn manh mún khi 56% doanh nghiệp phải đi thuê mặt bằng và chỉ có 66,5% số kho bảo quản đạt tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành.
  • Cam kết mở cửa 100% vốn FDI từ năm 2009 đặt ra yêu cầu cấp bách phải chuyển dịch từ mạng lưới phân phối truyền thống (chiếm 84%) sang các mô hình bán lẻ hiện đại có tính liên kết chuỗi cao.
  • Đóng góp học thuật then chốt của luận văn là hệ thống hóa toàn diện bức tranh năng lực cạnh tranh thực chứng của 450 doanh nghiệp bán lẻ, làm cơ sở khoa học cho lộ trình tái cấu trúc ngành thương mại đến năm 2015.

Để chủ động đứng vững và chiếm lĩnh thị trường nội địa trong giai đoạn tới, các doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ cần khẩn trương thực hiện lộ trình chuẩn hóa nhân lực, số hóa quản trị và liên kết chuỗi cung ứng ngay từ hôm nay. Hãy khai thác triệt để các dữ liệu phân tích chuyên sâu trong công trình này để xây dựng chiến lược kinh doanh vượt trội cho doanh nghiệp của bạn!