Phần mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn Chƣơng 3: Các giải pháp để nâng cao cạnh tranh của Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn giai đoạn 2015 - 2020 Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Lý thuyết về năng lực cạnh tranh 1. Cạnh tranh Kinh tế thị trƣờng vận động dƣới sự tác động tổng hợp của các quy luật kinh tế khách quan, trong đó có quy luật cạnh tranh. Quy luật cạnh tranh đòi hỏi DN phải thay đổi thích nghi trƣớc biến động thị trƣờng để tồn tại và phát triển.
Cạnh tranh là thuật ngữ đƣợc con ngƣời sử dụng từ rất lâu và thuật ngữ này rộ lên những năm gần đây, đặc biệt là ở Việt Nam. Vì trong nền kinh tế mở theo hƣớng tự do hóa nhƣ hiện nay, cạnh tranh trở thành cách thức để DN tồn tại và phát triển. Vậy cạnh tranh là gì? Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD định nghĩa “cạnh tranh là khả năng các DN, ngành, quốc gia và vùng tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Định nghĩa này kết hợp hoạt động cạnh tranh của DN, ngành, quốc gia và vùng lãnh thổ.
Theo Ủy ban cạnh tranh công nghiệp Mỹ “cạnh tranh đối với một quốc gia thể hiện trình độ sản xuất hàng hóa dịch vụ đáp ứng đƣợc đòi hỏi của thị trƣờng quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng đƣợc thu nhập thực tế của nhân dân nƣớc đó trong những điều kiện thị trƣờng tự do và công bằng xã hội”. Trong khái niệm này, vai trò của điều kiện cạnh tranh là “tự do và công bằng xã hội” đƣợc nhấn mạnh. Nhƣ vậy, thông qua cái nhìn vĩ mô, các khái niệm về cạnh tranh đều cho thấy mục tiêu chung của hoạt động cạnh tranh là thỏa mãn tối đa nhu cầu của thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế, tạo thêm việc làm và thu nhập cao hơn cho nền kinh tế. Theo Michael, cạnh tranh chính là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là có đƣợc lợi nhuận hơn mức lợi nhuận trung bình mà DN đang có. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo hƣớng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (1980) Qua các khái niệm trên, chúng ta có thể thấy cạnh tranh là mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong việc giải quyết các lợi ích kinh tế. Bản chất kinh tế của cạnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 tranh thể hiện ở mục đích lợi nhuận và quyền chi phối thị trƣờng. Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trƣờng chịu sự chi phối của quan hệ sản xuất và nó giữ vị trí thống trị trong xã hội, quy luật lƣu thông tiền tệ và quy luật cung cầu – đây là một đặc trƣng gắn với bản chất cạnh tranh.
Cạnh tranh giúp tăng hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất và giúp DN hoạt động thành công nhất. Các công cụ cạnh tranh mà DN thƣờng sử dụng bao gồm: Nâng cao chất lƣợng sản phẩm – dịch vụ Giá cả sản phẩm: chính sách xây dựng giá thấp, chính sách xây dựng giá bán cao, chính sách ổn định giá, chính sách phân biệt giá Hệ thống kênh phân phối 1. Năng lực cạnh tranh Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” đƣợc sử dụng để đánh giá tất cả các DN, các ngành, quốc gia và cả khu vực liên quốc gia. Tuy nhiên, ở mỗi góc độ nghiên cứu thì năng lực cạnh tranh lại đƣợc phân tích ở các mục tiêu khác nhau.
Trên thƣơng trƣờng, khi các chủ thể cạnh tranh với nhau để giành thắng lợi về phía mình, các chủ thể đó phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình. Các biện pháp đƣợc sử dụng để thể hiện sức mạnh, khả năng hoặc năng lực nào đó của chủ thể đƣợc gọi là năng lực cạnh tranh của DN đó. Năng lực cạnh tranh cũng dùng để diễn tả vị thế hoặc mức độ hấp dẫn của hàng hóa nào đó trên thị trƣờng. Khái niệm năng lực cạnh tranh của DN đến nay vẫn chƣa đƣợc hiểu một cách thống nhất.
Dƣới đây là một số cách tiếp cận về năng lực cạnh tranh của DN. Một là, năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của DN. Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các DN. Cách quan niệm này có thể gặp ở Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ƣơng (CIEM) trực thuộc bộ kế hoạch và đầu tƣ.
Cách quan niệm nhƣ vậy tƣơng đồng với cách tiếp cận thƣơng mại truyền thống đã nêu trên. Hạn chế trong quan niệm này là chƣa bao hàm các phƣơng thức, chƣa phản ánh bao quát năng lực kinh doanh của DN. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Hai là, năng lực cạnh tranh của DN là khả năng chống chịu trƣớc sự tấn công của DN khác. Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ƣơng cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng lực của một DN “không bị DN khác đánh bại về năng lực kinh tế”.
Quan niệm nhƣ vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lƣợng. Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Theo Micheal Porter thì “những DN có khả năng cạnh tranh là những DN đạt đƣợc mức tiến bộ cao hơn mức trung bình về chất lƣợng hàng hóa và dịch vụ và/hoặc có khả năng cắt giảm các chi phí tƣơng đối cho phép họ tăng đƣợc lợi nhuận (doanh thu – chi phí) và/hoặc thị phần …”. Ông cũng khẳng định năng suất lao động là thƣớc đo duy nhất về năng lực cạnh tranh.
Khái niệm trên đã chỉ rõ mục tiêu của cạnh tranh và đặc điểm cơ bản của việc cạnh tranh thành công. Tuy nhiên, các quan niệm này chƣa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của DN. Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh. Chẳng hạn, Vũ Trọng Lâm (2004), Kinh tế Tri thức ở Việt Nam: quan điểm và giải pháp phát triển, cho rằng: năng lực cạnh tranh của DN là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của DN.
Hay ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh của DN là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lƣợng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Năng lực cạnh tranh của DN là thể hiện thực lực và lợi thế so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Vì thế, năng lực canh tranh của DN phải đƣợc tạo ra từ thực lực của DN. Micheal Porter nhận định rằng “Để có thể cạnh tranh thành công, các DN phải có đƣợc lợi thế cạnh tranh dƣới hình thức hoặc là có chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt đƣợc những mức giá cao hơn trung bình.
Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các DN cần ngày càng đạt đƣợc những lợi thế cạnh tanh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hóa hay dịch vụ có chất lƣợng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu quả hơn”. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho DN Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới, để tồn tại và đứng vững trên thị trƣờng các DN cần phải liên kết ngoại thƣơng và cố gắng cạnh tranh với chính những quốc gia mà mình liên kết. Cuộc cách mạng công nghệ thông tin đang làm cho nền kinh tế thế giới gắn bó, ràng buộc lẫn nhau dẫn tới không một quốc gia nào muốn phát triển mà có thể tách rời với hệ thống kinh tế thế giới.
Hội nhập kinh tế quốc tế là tham gia vào sự phân công lao động quốc tế, chúng ta hội nhập các tổ chức kinh tế song phƣơng và đa phƣơng, là chấp nhận và tuân thủ những quy định chung đƣợc hình thành trong quá trình hợp tác và đấu tranh giữa các thành viên trong tổ chức. Đối với mọi DN, cạnh tranh luôn là con dao hai lƣỡi. Quá trình cạnh tranh sẽ đào thải các DN không đủ năng lực đứng vững trên thị trƣờng. Mặt khác cạnh tranh buộc các DN phải không ngừng cố gắng trong hoạt động của mình để tồn tại và phát triển.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ đang phát triển nhanh chóng, nhiều công trình khoa học công nghệ tiên tiến ra đời tạo ra các sản phẩm tốt, đáp ứng nhu cầu mọi mặt của con ngƣời. Ngƣời tiêu dùng đòi hỏi ngày càng cao về sản phẩm mà nhu cầu của con ngƣời thì vô tận, luôn có "ngách thị trƣờng" đang chờ các nhà DN tìm ra và thoả mãn. Do vậy các DN phải nghiên cứu thị trƣờng, phát hiện ra những nhu cầu mới của khách hàng để có thể lựa chọn phƣơng án phù hợp với năng lực của DN để đáp ứng nhu cầu khách hàng. Trong cuộc cạnh tranh này DN nào nhạy bén hơn sẽ thành công.
Tóm lại, việc nâng cao khả năng cạnh tranh của DN trong điều kiện hội nhập là cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của DN. Các cơ sở của năng lực cạnh tranh Michael Porter là một ngƣời nổi tiếng đã ủng hộ quan điểm này. Theo ông, việc xây dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh là phân tích các lực lƣợng bên ngoài, sau đó quyết định và hành động dựa trên kết quả thu đƣợc, vị thế DN so với đối thủ cạnh tranh và vị trí của DN trong lĩnh vực hoặc ngành nghề kinh doanh. Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter đã thể hiện những ý tƣởng chính về lý thuyết lợi thế cạnh tranh, quy luật cạnh tranh trong bất cứ ngành công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 nghiệp nào.
Việc phân tích cấu trúc ngành giúp xác định những nhân tố chính cho việc cạnh tranh thành công cũng nhƣ cơ hội và thách thức của DN. Chìa khóa thành công chính là khả năng tạo đƣợc sự khác biệt trong việc giải quyết mối quan hệ với các tác lực cạnh tranh đó nhƣ thế nào.