CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁN BỘ VÀ NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ 1. Một số khái niệm: 1. Cán bộ quản lý: Cán bộ quản lý hiểu theo nghĩa rộng, gồm những người giữ chức vụ và trách nhiệm cao trong một tổ chức. Họ tham gia định hướng và điều khiển hoạt động của tổ chức ấy.
Trong bộ phận cán bộ quản lý có một nhóm được gọi là cán bộ chủ chốt (cán bộ lãnh đạo). Đây là những cán bộ rất quan trọng, có vai trò quyết định đến toàn bộ hoạt động của một tổ chức, doanh nghiệp… Theo cách hiểu thông thường và khá phổ biến ở nước ta hiện nay, khái niệm cán bộ lãnh đạo còn gắn liền với khái niệm cán bộ quản lý. Sở dĩ như vậy, bởi nội hàm của hai khái niệm này có những điểm giống nhau: cả cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý đều là chủ thể ra quyết định, điều khiển hoạt động của một tổ chức. Người cán bộ lãnh đạo cũng phải thực hiện chức năng quản lý và người cán bộ quản lý cũng phải thực hiện chức năng lãnh đạo.
Cụ thể hơn: Theo nghĩa riêng: Cán bộ quản lý là những người làm việc trong bộ máy quản lý, là người thực hiện các chức năng quản lý nhất định nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức với kết quả và hiệu quả cao. Theo nghĩa hẹp: cán bộ quản lý là những người có thẩm quyền ra quyết định quản lý theo các chức năng xác định, dù được phân quyền hay uỷ quyền. Nói chung: Cán bộ quản lý là những người phụ trách và đưa ra quyết định quản lý thuộc phạm vi mình đảm nhiệm nhằm tổ chức, phối hợp, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp theo chức năng được phân công. Như vậy, một cán bộ quản lý được xác định bởi ba yếu tố.
- Có vị thế trong tổ chức với những quyền hạn nhất định trong quá trình ra quyết định quản lý. 8 - Có chức năng thể hiện những công việc quản lý cần thực hiện trong toàn bộ hoạt động của tổ chức. - Có chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng những đòi hỏi nhất định của các công việc thuộc chức năng quản lý. Khái niệm chung về năng lực Theo quan điểm của những nhà tâm lý học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.
Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có. Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng lực chuyên môn. Nhà xã hội học Mary Parker Follet (Mỹ) cho rằng “Năng lực là khả năng làm việc tốt nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn”. Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau, như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực tưởng tượng.
Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hội như năng lực tổ chức, năng lực kinh doanh, năng lực thiết kế công nghệ. Năng lực chung và năng lực chuyên môn có mối quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên luôn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ nâng cao, thành đạt được năng lực chuyên môn. Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung. Trong thực tế mọi hoạt động có kết quả và hiệu quả cao của mỗi người đều phải có năng lực chung phát triển ở trình độ cần thiết và có một vài năng 9 lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực công việc của mình.
Những năng lực cơ bản này không phải là bẩm sinh, mà nó phải được giáo dục phát triển và đào tạo, bồi dưỡng ở con người. Năng lực của một người phối hợp trong mọi hoạt động là nhờ khả năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh ở lỗi cá nhân được hình thành trong quá trình sống và giáo dục, đào tạo của mỗi người. Năng lực còn được hiểu theo một cách khác, năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo tối thiểu là cái mà người đó có thể dùng khi hoạt động kinh tế, khoa học, kỹ thuật, xã hội. Trong điều kiện bên ngoài như nhau những người khác nhau có thể tiếp thu các kiến thức kỹ năng và kỹ xảo đó với nhịp độ khác nhau có người tiếp thu nhanh, có người phải mất nhiều thời gian và sức lực mới tiếp thu được, người này có thể đạt được trình độ điêu luyện cao còn người khác chỉ đạt được trình độ trung bình nhất định tuy đã hết sức cố gắng.
Thực tế cuộc sống có một số hình thức hoạt động như nghệ thuật, khoa học, thể thao. Những hình thức mà chỉ những người có một số năng lực nhất định mới có thể đạt kết quả. Để nắm được cơ bản các dấu hiệu khi nghiên cứu bản chất của năng lực ta cần phải xem xét trên một số khía cạnh sau: - Năng lực là sự khác biệt tâm lý của cá nhân người này khác người kia, nếu một sự việc thể hiện rõ tính chất mà ai cũng như ai thì không thể nói về năng lực. - Năng lực chỉ là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả việc thực hiện một hoạt động nào đó chứ không phải bất kỳ những sự khác nhau cá biệt chung chung nào.
- Khái niệm năng lực không liên quan đến những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành ở một người nào đó, năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến thức kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn. 10 - Năng lực con người bao giờ cũng có mầm mống bẩm sinh tuỳ thuộc vào sự tổ chức của hệ thống thần kinh trung ương, nhưng nó chỉ được phát triển trong quá trình hoạt động thực tiễn và phát triển của con người. Trong xã hội có bao nhiêu hình thức hoạt động của con người thì cũng có bấy nhiêu loại năng lực, có người có năng lực về kinh doanh, có người có năng lực về nghiên cứu khoa học, có người có năng lực về thể thao. - Năng lực của người lãnh đạo quản lý bao gồm các năng lực như kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh, kiểm soát.
Năng lực lãnh đạo là cả một quá trình mà tại đó một cá nhân có ảnh hưởng lên những người khác để họ hoàn thành một mục tiêu, nhiệm vụ nào đó theo phương cách nối kết, liên hoàn sao cho có hiệu quả nhất. Các nhà lãnh đạo thực hiện quá trình này bằng chính các kỹ năng lãnh đạo của mình, như niềm tin, sự tôn trọng con người, cách thức xử thế, tính cách cá nhân, kiến thức và kỹ năng chuyên môn…. Trong năng lực lãnh đạo, năng lực tổ chức có vai trò quan trọng, Lê nin đã vạch ra đầy đủ cấu trúc của năng lực tổ chức chỉ ra những thuộc tính cần thiết cho người cán bộ tổ chức là bất cứ người quản lý, lãnh đạo nào cũng cần phải có là: + Sự minh mẫn và tài xắp xếp công việc. + Sự hiểu biết mọi người.
+ Tính cởi mở hay là năng lực thâm nhập vào các nhóm người. + Sự sắc sảo về trí tuệ và óc tháo vát thực tiễn các phẩm chất ý chí. + Khả năng hiểu biết mọi người và kỹ năng tiếp xúc với con người. Do đó khi xem xét kết quả công việc của một người cần phân tích rõ những yếu tố đã làm cho cá nhân hoàn thành công việc, người ta không chỉ xem cá nhân đó làm gì, kết quả ra sao mà còn xem làm như thế nào chính năng lực thể hiện ở chỗ người ta làm tốn ít thời gian, ít sức lực của cải vật 11 chất mà kết quả lại tốt.
Trong đó, cần phân biệt năng lực với tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. - Tri thức là những hiểu biết thu nhận được từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của mình. - Kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức thu lượm vào thức tế để tiến hành một hoạt động nào đó. - Kỹ xảo là những kỹ năng được lắp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục cho phép con người không phải tập trung nhiều ý thức và việc mình đang làm.
Còn năng lực là một tổ hợp phầm chất tương đối ổn đinh, tương đối cơ bản của cá nhân, cho phép nó thực hiện có kết quả một hoạt động. Do đó, người có trình độ học vấn cao như trình độ đại học, trên đại học hoặc có nhiều kinh nghiệm sống do công tác lâu năm và kinh qua nhiều cương vị khác nhau nhưng vẫn có thể thiếu năng lực cần thiết của người lãnh đạo quản lý như năng lực tổ chức, năng lực trí tuệ. Nếu chỉ căn cứ vào bằng cấp hay quá trình công tác mà đề bạt một cán bộ là chưa đủ, mà còn phải căn cứ vào hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ được giao để đánh giá năng lực cán bộ quản lý thì mới đúng đắn. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, giữa năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có quan hệ mật thiết với nhau; năng lực tư duy không thể phát triển cao ở người có trình độ học vấn thấp.
Năng lực tổ chức không thể có được ở người chưa bao giờ quản lý, điều hành một đơn vị sản xuất, kinh doanh cụ thể. Do vậy, khi đánh giá năng lực của một cán bộ quản lý cần phải căn cứ vào hiệu quả sản xuất hoàn thành công việc là chính, đồng thời cũng cần biết được trình độ học vấn và quá trình công tác của người đó nữa. Năng lực quản lý Chúng ta có thể hiểu, năng lực quản lý là năng lực tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong quá trình tiến hành các hoạt động nhằm 12 đạt tới mục tiêu đã đặt ra. Như vậy, nội hàm khái niệm năng lực quản lý được hiểu như sau: • Năng lực quản lý: Là năng lực tác động giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.