CHƯƠNG 1. Lý do chọn đề tài Đất nước ta đang trong giai đoạn CNH-HĐH và hội nhập kinh tế thế hệ mới. Song song với quá trình đó là sự phát triển không ngừng về kinh tế - xã hội, sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Quá trình đó tạo cho đất nước những cơ hội lớn.
Bên cạnh đó cũng có những thách thức không nhỏ cần phải cố gắng vượt qua. Tình hình mới đòi hỏi những người cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính Nhà nước không chỉ ở cấp Trung ương mà cả cấp địa phương phải có đủ năng lực, giỏi về chuyên môn và tốt về phẩm chất chính trị mới. Qua đó, đưa nước ta vượt qua thách thức và khó khăn hướng đến phát triển bền vững trọng mọi bối cảnh. Cán bộ có vai trò quan trọng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”.
Đội ngũ CBCC nước ta là lực luợng nòng cốt của Bộ máy hành chính Nhà nước, đóng vai trò rất quan trọng. CBCC là công bộc của dân, là người thực thi chính sách của Nhà nước, là người đại diện cho quyền lợi của nhân dân. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế hệ mới, CBCC là những người đóng góp sức mình vào công cuộc phát triển đất nước; Đặc biệt là phát triển kinh tế, xã hội. Muốn được như vậy, thì CBCC phải không ngừng học hỏi, trau dồi các kiến thức, phát huy nội lực của bản thân để tạo sức mạnh cho tập thể.
Trong Bộ máy hành chính Nhà nước, cấp huyện (thị xã, quận) là quan trọng. Đây là cấp trung gian giữa tỉnh, xã và thành phố, phường. Là cấp trực tiếp thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, của Nhà nước, cấp thực hiện các Quyết định, Chỉ thị của UBND cấp chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động của cấp xã. Xác định được tầm quan trọng của đội ngũ CBCC là tiên phong trong việc đề ra các chủ trương chính sách phát triển kinh tế - xã hội của thị xã.
Vì vậy, UBND thị xã Tân Uyên luôn quan tâm đến việc nâng cao trình độ đội ngũ CBCC như: đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, tuyển dụng cán bộ nhằm cường năng lực tổ chức và triển khai nhiệm vụ. Qua đó, góp phần xây dựng đội ngũ CBCC thị xã vững mạnh, đáp 1 ứng nhu cầu nhiệm vụ của thị xã và sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Hiện nay, đội ngũ CBCC đã và đang góp phần đáng kể vào tiến trình cải cách hành chính theo mục tiêu xây dựng nền hành chính hiện đại. Trên thực tế còn một số CBCC với năng lực làm việc có nhiều mặt yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu trong công cuộc đổi mới dẫn đến nhiều bất cập trong công tác quản lý cũng như trách nhiệm phục vụ nhân dân, còn không ít CBCC trong các cơ quan quản lý nhà nước làm việc thiếu tích cực.
Cụ thể trong những năm gần đây, tỷ lệ nghỉ việc, chuyển công tác tại UBND thị xã Tân Uyên vẫn xảy ra. Năm 2016, số người nghỉ việc, chuyển công tác là 04 người, chiếm tỷ lệ 2,4%; năm 2017 là 5 người, chiếm tỷ lệ 2,9%. Tính tích cực trong lao động của CBCC thể hiện sự năng động, sự đam mê công việc, sự năng nổ, nhu cầu cống hiến, sự chủ động trong lao động, sự sáng tạo, có trách nhiệm trong giải quyết công việc và trong các mối quan hệ với đồng nghiệp và với người dân. Từ thực tế trên, nghiên cứu và củng cố năng lực của đội ngũ CBCC có ý nghĩa hơn bao giờ hết vì những lý do sau: - Đến thời điểm hiện tại chưa có một nghiên cứu cụ thể nào đánh giá được các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của CBCC tại UBND thị xã Tân Uyên.
- Ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên chưa xây dựng một chiến lược nâng cao hiệu quả công việc và phát triển nguồn nhân lực đồng bộ với định hướng phát triển chung của toàn thị xã Tân Uyên. Vì các lý do trên, đồng thời dựa trên những nhu cầu thực tế của địa phương, học viên chọn đề tài “Nâng cao năng lực của cán bộ, công chức tại Ủy ban nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương”. Hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho lãnh đạo địa phương có một cách nhìn chính xác và khách quan hơn về nguồn nhân lực. Từ đó có những chính sách tốt nhất tạo điều kiện cho CBCC phát huy tối đa tiềm lực để đóng góp vào sự phát triển chung của tổ chức.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát Nghiên cứu và phân tích thực trạng năng lực của CBCC nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng năng lực của CBCC để hướng đến nâng cao năng lực của CBCC tại 2 UBND thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về năng lực của đội ngũ CBCC tại UBND thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Phân tích thực trạng về năng lực của CBCC tại UBND thị xã Tân Uyên.
Qua đó làm rõ kết quả đạt được và chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu cần khắc phục và nguyên nhân. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ CBCC tại UBND thị xã Tân Uyên và một số khuyến nghị để thực hiện được các giải pháp đã nêu. Câu hỏi nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu, luận văn cần làm rõ các câu hỏi nghiên cứu cụ thể sau: (1). Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về năng lực và nâng cao năng lực của đội ngũ CBCC tại UBND thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương? (2).
Thực trạng về năng lực của đội ngũ CBCC tại UBND thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương hiện nay như thế nào? (3). Giải pháp nào nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ CBCC tại UBND thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương ? 1. Đối tượng và phạm vi nghiêm cứu 1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Năng lực của đội ngũ CBCC tại UBND thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Khách thể nghiên cứu: Người dân đến giao dịch tại một cửa UBND thị xã, lãnh đạo các phòng ban và CBCC đang làm việc tại UBND thị xã Tân Uyên. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: UBND thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. - Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu về CBCC của UBND thị xã Tân Uyên qua các báo cáo từ năm 2016 đến năm 2018. Khái niệm về cán bộ, công chức Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy định tại Điều 4 như sau: - Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Khoản 1, Điều 4).
- Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Khoản 2, Điều 4). Như vậy, công chức là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công việc thường xuyên, làm việc trong một cơ quan nhà nước (hoặc cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân hay Công an nhân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng), được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Khái niệm năng lực Theo Lê Thị Bừng (2008), “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt có kết quả”. Tâm lý học chia năng lực thành 02 loại: năng lực chung và năng lực 4 chuyên môn (năng lực chuyên biệt).
- “Năng lực chung: Là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, chẳng hạn những thuộc tính về thể lực, trí lực, trí tuệ (quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ…). Đây là những điều kiện cần thiết giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có kết quả. - Năng lực chuyên môn (năng lực riêng biệt): Là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt, có tính chuyên môn. Qua đó, nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao chẳng hạn như: năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội họa, toán học.
Theo Hoàng Phê (2008), năng lực là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” như năng lực tư duy, năng lực tài chính hoặc là “phẩm chất tâm sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động với chất lượng cao” như năng lực chuyên môn, năng lực lãnh đạo. Theo Đặng Thành Hưng (2010), kỹ năng phản ánh năng lực làm, tri thức phản ánh năng lực nghĩ và thái độ phản ánh năng lực cảm nhận. Năng lực là “tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lý và giá trị xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động”.