CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG 1. Tổng quan về đội ngũ cán bộ, công chức 1. Khái niệm cán bộ, công chức Quản lý thị trường Cán bộ, công chức (CBCC) là một trog những nguồn nhân lực quan trọng trong hệ thống quản lý nhà nước và là lực lượng thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương. Năng lực, trình độ của đội, hiệu quả công việc của đội ngũ CBCC quyết định hiệu lực của hệ thống chính trị nói chung và của bộ máy hành chính Nhà nước nói riêng.
Những người thừa hành thực thi các quyền lực nhà nước, chấp hành các công vụ của nhà nước được gọi là. Chế độ công chức ra đời là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển và hoàn thiện của các tổ chức nhà nước, biểu hiện sự văn minh của hoạt động quản lý nhà nước ở lĩnh vực kinh tế-xã hội. Chế độ công chức tiên tiến sẽ bảo đảm quản lý xã hội phát triển đồng bộ. Chế độ công chức đã ra đời vào nửa cuối thế kỷ XVIII ở các nước tư bản phương Tây sau khi cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra đã kéo theo sự phát triển về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ở các nước này, từ đó động lực thúc đẩy sự hình thành và phát triển chế độ công chức.
Chế độ công chức quy định về tiêu chuẩn, số lượng công chức nói riêng và đội ngũ công chức nói chung và cơ cấu công chức nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động và nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà nước. Theo luật công chức của Hoa Kỳ thì công chức là những nhân viên hành chính trong ngành hành chính của chính phủ. Theo luật công chức của Đức thì: Công chức là những người chịu sự chỉ huy, kiểm tra trực tiếp của Liên bang, công chức gián tiếp là những người phục vụ ở các đoàn thể xã hội, đoàn thể xây dựng vật chất và tài 6 chính theo luật chung, trực tiếp lệ thuộc Chính phủ Liên bang. Tất cả các thành phần trên đây đều gọi là công chức.
Ngoài các thành phần thuộc phạm vi trên, công chức trong quốc hội Liên bang, Thượng viện Liên bang, Toà án Liên bang cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của luật công chức. Như vậy, ở mỗi quốc gia đều có khái niệm công chức riêng nhưng đều có đặc điểm chung là người lao động hoạt động trong cơ quan hành chính nhà nước, chịu sự quản lý của nhà nước thông qua luật công chức. Ở Việt Nam, khái niệm cán bộ công chức được thông qua luật cán bộ công chức năm 2008. Cụ thể như sau: Theo khoản 4, điều 1, luật cán bộ công chức thì cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Cũng theo Luật cán bộ, công chức năm 2008, điều 4, khoản 1: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Phân loại cán bộ, công chức Phân loại cán bộ công chức theo trình độ đào tạo: 7 Theo trình độ đào tạo, công chức được phân thành: Dưới sơ cấp, sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học và trên đại học. Phân loại công chức theo hạn ngạch bổ nhiệm: Theo ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân thành loại A, loại B, loại C và loại D, cụ thể như sau: + Những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương được xếp vào công chức loại A + Những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương được xếp vào công chức loại B + Những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương được xếp vào công chức loại C + Những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch CB, CC được xếp vào công chức loại D Phân loại theo vị trí công tác Theo vị trí công tác: + Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lí. + Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lí.
Phân loại theo công chức hành chính Theo ngạch công chức hành chính: công chức được phân loại thành chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự, kỹ thuật viên đánh máy, nhân viên đánh máy, nhân viên kỹ thuật, nhân viên văn thư, nhân viên phục vụ, lái xe cơ quan, nhân viên bảo vệ. Phân loại công chức theo quản lý hành chính Theo phân cấp quản lý hành chính: Công chức quản lý nhà nước cấp Trung ương Công chức quản lý nhà nước cấp tỉnh Công chức quản lý nhà nước cấp huyện Công chức quản lý nhà nước cấp cơ sở 8 Ở từng lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ có ngạch bậc từ thấp đến cao, thể hiện trình độ, năng lực, chuyên môn, vị trí, thời gian công tác của công chức; ngạch lương khác nhau, mức lương khởi điển khác nhau. Luật CB, CC năm 2008 và các nghị định, thông tư, hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, việc nâng bậc lương thấp lên bặc lương cao hơn được căn cứ vào thời gian công tác trong ngạch, được cơ quan quản lý công chức đánh giá mức hoàn thành công việc trở lên, không vi phạm kỷ luật, trừ trường hợp nâng bậc lương thước thời hạn do lập thành tích xuất sắc. Việc bậc lương nâng lương được tiến hành theo quy trình, thủ tục và phân cấp theo quy định của pháp luật.
Việc nâng ngạch lương từ ngạch thấp lên ngạch cao hơn liền kề phải qua thi tuyển nâng ngạch. Phân loại CBCC trong công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại Hiện nay, Pháp lệnh Quản lý thị trường 2016 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2016 với 04 mã ngạch (kiểm soát viên cao cấp thị trường, kiểm soát viên chính thị trường, kiểm soát viên thị trường, kiểm soát viên trung cấp thị trường), tuy nhiên chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định tiêu chuẩn ngạch Kiểm soát viên cao cấp thị trường. * Kiểm soát viên chính thị trường - Chức trách: Là công chức có chuyên môn nghiệp vụ cao trong lĩnh vực QLTT, thực hiện công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường tại Tổng Cục QLTT, Cục QLTT và Đội QLTT hoặc trực tiếp kiểm tra, kiểm soát thị trường đối với những vụ việc có quy mô lớn, tính chất phức tạp liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực và địa phương thuộc thẩm quyền của Quản lý thị trường. - Nhiệm vụ: Chủ trì hoặc tham gia nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, chế độ, chính sách; Chủ trì nghiên cứu, xây dựng quy định, quy chế quản lý nghiệp vụ của ngành, lĩnh vực quản lý thị trường; Tổ chức hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính 9 sách, chuyên môn nghiệp vụ; đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của ngành, lĩnh vực quản lý thị trường hoặc ở cơ quan từ cấp huyện trở lên; Chủ trì hoặc tham gia tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ về quản lý thị trường; xây dựng báo cáo, thống kê, quản lý hồ sơ lưu trữ, thực hiện quy trình nghiệp vụ; tổng hợp, đánh giá, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý của ngành; Trực tiếp thực thi công vụ và các nhiệm vụ khác được cấp trên giao.
- Tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ: Nắm được đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước; hệ thống chính trị, hệ thống tổ chức các cơ quan nhà nước, chế độ công vụ công chức và các kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ thuộc ngành, lĩnh vực quản lý thị trường; Chủ trì, tổ chức xây dựng hoàn thiện thể chế; chủ trì xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện; xây dựng các đề án, dự án, chương trình công tác; đánh giá tác động về kinh tế, xã hội đối với các chính sách chuẩn bị ban hành; Thành thạo kỹ năng soạn thảo văn bản hành chính theo đúng thể thức, quy trình, thủ tục và thẩm quyền; Tổ chức hướng dẫn, thực hiện chế độ, chính sách, các quy định về quản lý nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực quản lý thị trường; thực hiện đề xuất các biện pháp kiểm tra, đánh giá; Nắm vững được tình hình và xu thế phát triển ngành, lĩnh vực quản lý thị trường trong nước và thế giới; tổ chức nghiên cứu phục vụ quản lý và xử lý thông tin quản lý; Đối với công chức dự thi nâng ngạch kiểm soát viên chính thị trường thì phải là người đã chủ trì xây dựng ít nhất 01 (một) văn bản quy phạm pháp luật hoặc chủ trì nghiên cứu, xây dựng ít nhất 01 (một) đề tài, đề án, dự án, chương trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ, ngành hoặc cấp tỉnh, cấp huyện được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc nghiệm thu và đánh giá đạt yêu cầu; Có kinh nghiệm trong lĩnh vực hành chính, công vụ về quản lý thị trường hoặc trong hoạt động lãnh đạo quản lý. Công chức dự thi nâng ngạch kiểm soát viên chính thị trường phải có thời gian giữ ngạch kiểm soát viên thị trường hoặc ngạch tương đương từ 5 10 năm (60 tháng) trở lên, trong đó thời gian giữ ngạch kiểm soát viên thị trường tối thiểu là 3 năm (36 tháng).