Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻTự kỷ. Chương 2: Thực trạng và ứng dụng phƣơng pháp công tác xã hội nhóm nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ Tự kỷ tại trƣờng Mầm non Ánh Sao Mai – Hà Nội. Chương 3: Bài học kinh nghiệm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ TỰ KỶ 1.1 Một số lý thuyết áp dụng trong can thiệp 1.1 Thuyết nhu cầu của Maslow - Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con ngƣời vào những năm 1950.
Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con ngƣời cần đƣợc đáp ứng nhƣ thế nào để một cá nhân hƣớng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần. - Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con ngƣời bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu. Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con ngƣời, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trƣớc sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành bậc thang nhu cầu của con ngƣời từ thấp đến cao.tr 36] Nhu cầu sinh lý: đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con ngƣời nhƣ nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sƣởi ấm, và thỏa mãn về tình dục. Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con ngƣời.
Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con ngƣời sẽ không tồn tại đƣợc. Đặc biệt với trẻ em vì chúng phụ thuộc rất nhiều vào ngƣời lớn để đƣợc cung cấp đầy đủ các nhu cầu cơ bản này. Ông quan niệm rằng, khi nhu cầu này chƣa đƣợc thỏa mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con ngƣời sẽ không thể tiến thêm đƣợc nữa. Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: an toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho những nội dung khác nhƣ an toàn lao động, an toàn môi trƣờng, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý…Đây là những nhu cầu khá phổ biến của con ngƣời.
Để sinh tồn con ngƣời tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu của sự an toàn. Nhu cầu an toàn nếu không đƣợc đảm bảo thì công việc của mọi ngƣời sẽ không tiến hành bình thƣờng đƣợc và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện đƣợc. Nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận: do con ngƣời Là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và đƣợc ngƣời khác thừa nhận. Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con ngƣời đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thƣờng, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bị buồn chán, mong muốn đƣợc hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con ngƣời với nhau.
Nhu cầu được tôn trọng: nội dung của nhu cầu này gồm 2 loại: lòng tự trọng và đƣợc ngƣời khác tôn trọng. - Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muốn giành đƣợc lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trƣởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện. - Nhu cầu đƣợc ngƣời khác tôn trọng gồm khả năng giành đƣợc uy tín, đƣợc thừa nhận, đƣợc tiếp cận, có địa vị, có danh dự…Tôn trọng là đƣợc ngƣời khác coi trọng, ngƣỡng mộ. Khi đƣợc ngƣời khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc đƣợc giao.
Do đó nhu cầu đƣợc tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con ngƣời. Nhu cầu phát huy bản ngã: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông. Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành đƣợc mục tiêu nào đó. Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết,nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…) nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân.
Vận dụng thuyết nhu cầu trong công tác xã hội nhóm: hiểu biết về thứ bậc nhu cầu của Maslow giúp cho nhân viên công tác xã hội xác định đƣợc nhu cầu nào trong hệ thống thứ bậc nhu cầu còn chƣa đƣợc đáp ứng, thỏa mãn tại thời điểm hiện tại, đặc biệt là các nhu cầu tâm lý của các em, nhận ra khi nào thì những nhu cầu cụ thể của các em chƣa đƣợc thỏa mãn và cần đáp ứng. Qua lý thuyết nhu cầu của Maslow nhân viên công tác xã hội đã hiểu đƣợc con ngƣời có nhiều nhu cầu khác nhau bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Ai cũng cần đƣợc yêu thƣơng, đƣợc thừa nhận, đƣợc tôn trọng, cảm giác an toàn phát huy bản ngã,…Do đó trong việc trợ giúp với các em nhân viên công tác xã hội không chỉ trợ giúp các em thỏa mãn nhu cầu sinh lý cơ bản mà cao hơn nữa phải tập trung trợ giúp cho các em thỏa mãn các nhu cầu tinh thần để sống lành mạnh hơn. Nhân viên công tác xã hội sử dụng thuyết nhu cầu để giúp đỡ các em thỏa mãn các nhu cầu.
Điều này có nghĩa là nhân viên công tác xã hội làm việc với các em để giúp các em xác định các hành động có thể thực hiện đƣợc để thay đổi 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tình huống và tập trung vào các vấn đề có thể đang cản trở các em trong việc thỏa mãn nhu cầu của chính các em. Trong một số trƣờng hợp các em không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, việc kết nối nhóm của các em với các nguồn lực là hoàn toàn hợp lý đối với vai trò của nhân viên công tác xã hội.2 Thuyết học tập xã hội. Thuyết học tập xã hội đƣợc khởi nguồn từ quan điểm học tập của Jean Gabriel Tarde (1843 - 1904). Thuyết học tập xã hội cho rằng việc học tập của con ngƣời (cả về kiến thức, thái độ và hành vi) đƣợc thực hiện thông qua quy luật, đó là sự tiếp xúc gần gũi, bắt chƣớc ngƣời khác và sự kết hợp cả hai.
Nhƣ vậy, cá nhân học cách hành động và ứng xử của ngƣời khác qua quan sát hoặc bắt chƣớc. Tất nhiên, không phải mọi việc học của bất cứ cá nhân nào cũng nhƣ vậy. Nó còn bị chi phối hay quy định bởi yếu tố bên trong cá nhân, nhƣ động cơ học tập, sự cần thiết và giá trị đối với bản thân, sự trải nghiệm, kinh nghiệm sống, nền tảng kiến thức và khả năng phân tích. Vì vậy ở lứa tuổi ấu thơ và nhi đồng, việc học tập xã hội theo kiểu quan sát và bắt chƣớc đƣợc thể hiện rõ nét hơn.
Đến tuổi trƣởng thành, phƣơng thức đó vẫn còn tác dụng nhƣng không còn là phƣơng thức cơ bản với nhận thức, khả năng của mỗi ngƣời. Yếu tố xã hội hóa cá nhân, sự định hình nhân cách, nhận thức đã chi phối và quy định chủ yếu đến hành vi cá nhân đối với ngƣời trƣởng thành.[31, tr86] Thuyết học tập xã hội đƣợc vận dụng trong công tác xã hội nhóm vì dựa trên quan điểm rằng, trong nhiều trƣờng hợp, một ngƣời sẽ học tập hành vi của ngƣời khác và hành vi này sẽ đƣợc củng cố nếu đƣợc lặp lại nhiều lần, có sự khích lệ hoặc không bị chỉ trích, phê phán. Ví dụ, việc bố trí sắp xếp chỗ ngồi, nhóm học tập giữa một học sinh có hành vi lệch lạc với một học sinh có hành vi tốt, năng lực học tập cao. Những biểu hiện ứng xử, hành vi, thói quen của học sinh tốt sẽ giúp học sinh kia nhận thấy hành vi của mình chƣa đúng từ đó chỉnh sửa, hoàn thiện bản thân.
Chính vì vậy trong công tác xã hội nhóm trong việc giáo dục kỹ năng giao tiếp cho TTK ở lứa tuổi mầm non thông qua hoạt động nhóm cần có sự sắp xếp điều chỉnh những em học sinh tích cực cùng với những em nhút nhát để cho các em tự giúp đỡ nhau trong học tập. Những TTK ở lứa tuổi mầm non thì việc học tập xã hội theo kiểu quan sát và bắt chƣớc đƣợc thể hiện rõ nét. Chính vì vậy bố, mẹ, thầy cô là những tấm 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gƣơng cho em học tập và noi theo. Các em sẽ học tập ngƣời lớn rất nhanh, có thể là qua phim ảnh sách báo.
Xuất phát từ lý do đó mà nhà trƣờng và gia đình phải phối hợp với nhau để quan tâm tới các em hơn, đặc biệt là trang bị cho các em kiến thức về giáo dục kỹ năng giao tiếp sớm hơn, để các em không bỡ ngỡ khi môi trƣờng sống và học tập thay đổi. Tránh tình trạng để cho các em thu mình lại trong vỏ bọc và không giao tiếp với bạn bè cùng chăng lứa, mọi ngƣời xung quanh. Tăng cƣờng trang bị cho trẻ có kỹ năng giao tiếp với mọi ngƣời thông qua việc nói những câu dài, tƣơng tác trong nhóm bạn tốt hơn, có khả năng bày tỏ mong muốn và nhu cầu của mình. Sau này đƣợc Bandura phát triển và xây dựng thành công lý thuyết mang tính ứng dụng cao.3 Thuyết hệ thống Thuyết hệ thống có nguồn gốc từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy.
Thuyết hệ thống nhấn mạnh vào các mối quan hệ tƣơng tác của con ngƣời với môi trƣờng sinh thái, nguyên tắc cơ bản của thuyết này cho rằng cuộc sống bình thƣờng của con ngƣời phụ thuộc vào môi trƣờng xã hội hiện tại của họ nhƣng có ảnh hƣởng từ quá khứ. Can thiệp tại bất cứ thời điểm nào trong hệ thống cũng sẽ ảnh hƣởng hoặc tạo ra sự thay đổi trong toàn bộ hệ thống mang tính lan tỏa, dây truyền.[31, tr83] Vận dụng lý thuyết của hệ thống trong công tác xã hội nhóm giúp cho nhân viên xã hội hiểu và xác định nhóm là một hệ thống của các yếu tố tƣơng tác với nhau. Thuyết hệ thống cung cấp mô hình, lý thuyết để giúp hiểu biết và phong cách đáp ứng nhu cầu, giải quyết các vấn đề của con ngƣời trong môi trƣờng sống. Việc giáo dục giới kỹ năng giao tiếp cho trẻ Tự kỷ ở lứa tuổi mầm non là một vấn đề khá mới mẻ chính vì vậy mà có nhiều quan điểm và đánh giá khác nhau về vấn đề này.