Chương 1: Tổng quan về khả năng sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Chương 2: Thực trạng khả năng sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao khả năng sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG SINH LỢI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN NIÊM YẾT 1. Ngân hàng thƣơng mại cổ phần niêm yết 1. Khái niệm NHTM cổ phần niêm yết là NHTM cổ phần có cổ phiếu được đăng kí và giao dịch tại TTCK tập trung. Việc niêm yết trên TTCK mang tới những lợi ích cho các NHTM như sau: - Tiếp cận kênh huy động vốn dài hạn: khi tham gia niêm yết cổ phiếu trên TTCK, các NHTM có thể huy động vốn một cách nhanh chóng, thuận tiện, dễ dàng từ việc phát hành cổ phiếu dựa trên tính thanh khoản cao và uy tín của NHTM được niêm yết trên thị trường.
Huy động theo cách này, các NHTM không phải thanh toán lãi vay cũng như phải trả vốn gốc giống như việc vay nợ, từ đó sẽ rất chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn huy động được cho mục tiêu và chiến lược dài hạn. Đây được coi là yếu tố quan trọng nhất khi quyết định niêm yết cổ phiếu trên TTCK. - Khuyếch trương uy tín: để được niêm yết chứng khoán, các NHTM phải đáp ứng được những điều kiện chặt chẽ về mặt tài chính, hiệu quả sản xuất – kinh doanh cũng như cơ cấu tổ chức. Do đó, các NHTM được niêm yết trên thị trường là các NHTM có hoạt động sản xuất – kinh doanh tốt.
Thực tế đã chứng minh, niêm yết chứng khoán là một trong những cách thức quảng bá tốt cho các NHTM, từ đó thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, tìm kiếm đối tác… - Tạo tính thanh khoản cho cổ phiếu: khi NHTM niêm yết trên TTCK sẽ giúp các cổ đông dễ dàng chuyển nhượng cổ phiếu đang nắm giữ, qua đó tăng tính hấp dẫn của cổ phiếu. - Gia tăng giá trị thị trường: xét về dài hạn, giá cổ phiếu của các NHTM niêm yết đều tăng so với mức giá tại thời điểm trước khi niêm yết. Với những lợi ích trên, các NHTM cổ phần niêm yết có cơ hội quảng bá thương hiệu, thu hút khách hàng gia tăng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng, từ đó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 gia tăng khả năng sinh lợi. Hoạt động kinh doanh của NHTM cổ phần niêm yết 1.
Hoạt động tạo lập nguồn vốn - Vốn điều lệ và các quỹ: Vốn điều lệ: là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ công ty. Vốn điều lệ có thể được thay đổi theo xu hướng tăng lên nhờ phát hành cổ phiếu bổ sung, hoặc được kết chuyển từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ theo quy định của pháp luật mỗi nước. Vốn điều lệ được sử dụng trước hết để xây dựng, mua sắm tài sản cố định, các phương tiện làm việc và quản lý, tức là tạo ra cơ sở vật chất ban đầu cho hoạt động của ngân hàng. Ngoài ra, các NHTM còn được phép sử dụng vốn điều lệ để hùn vốn, liên doanh, cấp vốn cho các công ty trực thuộc và thực hiện các hoạt động kinh doanh khác.
Các quỹ của ngân hàng: các quỹ của ngân hàng được hình thành khi ngân hàng đã đi vào hoạt động, bao gồm các quỹ được trích từ lãi ròng hàng năm của ngân hàng như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, các quỹ dự phòng, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi. Ngoài ra, còn có các quỹ được hình thành bằng cách trích và tính vào chi phí hoạt động của ngân hàng như quỹ khấu hao cơ bản, sửa chữa tài sản, dự phòng để xử lý rủi ro… - Vốn huy động: là một trong các nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn của NHTM, thông qua việc ngân hàng nhận ký thác và quản lý các khoản tiền từ khách hàng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đáp ứng nhu cầu vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn huy động bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng; tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức, đoàn thể; tiền gửi tiết kiệm của dân cư; nguồn vốn huy động qua phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi… - Nguồn vốn đi vay: vay của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn như chiết khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá, cầm cố, tái cầm cố các thương phiếu, vay lại theo hợp đồng tín dụng; vay của các NHTM khác qua thị trường liên ngân hàng, hợp đồng mua lại; vay của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hoạt động sử dụng vốn Với nguồn vốn có được, ngân hàng sử dụng cho các hoạt động sau: - Thiết lập dự trữ: các NHTM không sử dụng toàn bộ nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, mà phải dành một phần dự trữ thích hợp nhằm đáp ứng các yêu cầu về duy trì dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN; thực hiện các lệnh rút tiền và thanh toán chuyển khoản của khách hàng; chi trả các khoản tiền gửi đến hạn, chi trả lãi; đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý trong ngày của khách hàng.
Dự trữ của ngân hàng có thể tồn tại dưới hình thức tiền mặt, tiền gửi tại các ngân hàng khác và các chứng khoán có tính thanh khoản cao. - Cấp tín dụng: bao gồm các nghiệp vụ cho vay ngắn, trung và dài hạn; chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá; cho thuê tài chính; bảo lãnh. Cho vay: là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng chuyển giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng cho mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả nợ gốc và lãi. Chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá: là loại hình tín dụng gián tiếp, trong đó NHTM sẽ thanh toán trước cho các giấy tờ có giá khi chưa đến hạn, với điều kiện khách hàng đề nghị chiết khấu phải chuyển nhượng quyền sở hữu giấy tờ có giá đó cho ngân hàng.
Cho thuê tài chính: là hình thức cấp tín dụng trung dài hạn, trong đó bên cho thuê chuyển giao cho bên thuê quyền sử dụng tài sản cho thuê trong một khoảng thời gian xác định. Trong thời gian sử dụng tài sản, bên thuê phải trả tiền cho bên cho thuê. Khi kết thúc thời hạn cho thuê, bên thuê được quyền mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê tài sản hoặc hoàn trả lại tài sản cho bên cho thuê. Bảo lãnh: là hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc NHTM sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho NHTM theo thỏa thuận. - Đầu tư tài chính: NHTM sử dụng các nguồn vốn ổn định để thực hiện các hình thức đầu tư nhằm kiếm lời và chia sẻ rủi ro với nghiệp vụ tín dụng. Các hình thức đầu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tư tài chính bao gồm góp vốn, liên doanh, mua cổ phần các công ty xí nghiệp, và vay các tổ chức tín dụng khác; mua chứng khoán và các giấy tờ có giá trị để hưởng lợi và chênh lệch giá. Các dịch vụ khác: dịch vụ ngân quỹ; dịch vụ ủy thác; dịch vụ thu hộ; tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt cho khách hàng; nhận quản lý tài sản quý giá theo yêu cầu của khách hàng; kinh doanh vàng bạc, đá quý, ngoại tệ; tư vấn về đầu tư, tài chính; dịch vụ ngân hàng điện tử; dịch vụ hợp đồng trao đổi tín dụng; dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán cho khách hàng; dịch vụ môi giới chứng khoán; nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán cho khách hàng; các nghiệp vụ phụ trợ khác như lưu ký chứng khoán, nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư.
Các nghiệp vụ trên của NHTM không thể tách rời, độc lập nhau mà chúng có mối quan hệ hỗ tương với nhau trong quá trình kinh doanh của ngân hàng. Khả năng sinh lợi tại các ngân hàng thƣơng mại cổ phần niêm yết 1. Khái niệm Khả năng sinh lợi là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính. Việc đánh giá khả năng sinh lợi phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu.
Khái niệm khả năng sinh lợi được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện. Khả năng sinh lợi có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản. Ở cấp độ ngân hàng, khả năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà ngân hàng nắm giữ. Như vậy, khả năng sinh lợi cần ít nhất đủ để đáp ứng được đòi hỏi cấp bách là đảm bảo duy trì vốn cho ngân hàng đầu tư và phát triển.Rose giáo sư kinh tế học và tài chính trường đại học Yale thì về bản chất NHTM cũng có thể được coi là một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép.
Tuy nhiên, khả năng sinh lợi là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao có thể giúp ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị trường, thu hút vốn đầu tư. Các chỉ tiêu đo lƣờng khả năng sinh lợi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (Return On Assets – ROA) ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. ROA cao khẳng định hiệu quả kinh doanh tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế.
Tuy nhiên, nếu ROA quá cao cũng thể hiện mức độ rủi ro cao vì rủi ro song hành với lợi nhuận. Công thức tính ROA như sau: Lợi nhuận sau thuế ROA = (1.