Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ QUẢN LÝ ĐO LƯỜNG VÀ TỎ CHỨC HOAT ĐỘNG KIEM ĐỊNH PHƯƠNG TIEN DO 1. Vai trò đo lường pháp quyền Việt Nam Hiện nay xây dựng Nhà nước pháp quyền vững mạnh là yếu tố quyết định dé phát triển đất nước theo dòng chảy văn minh chung của nhân loại. Trong Nhà nước pháp quyền đó mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội đều phải được quản lý, điều hành bằng luật pháp. Do lường là lĩnh vực có ý nghĩa như là hạ tầng cơ sở cho sự phát triển của tất cả nền kinh tế quốc dân, liên quan đến an toàn và lợi ớch của toàn dân.
Quản lý và phát triển lĩnh vực này là một trong những nhiệm vụ quan trọng của bat cứ Nhà nước nào trên thé giới. Xây dựng được hệ thống quan lý đo lường và cao hơn nữa là Luật Do lường chính là đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền của nước ta đối với một lĩnh vực hoạt động có ý nghĩa nền tảng của sự phát triển và văn minh này.1 Đảm bảo phát triển và ứng dụng khoa học đo lường đáp ứng yêu cau công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hài hoà với do lường quốc tế Do lường học là lĩnh vực hiểu biết liên quan đến phép đo. Do lường học bao gồm tat cả các khía cạnh lý thuyết và thực tiễn của phép đo, với mọi độ không đảm bảo đo và lĩnh vực áp dụng. Sự áp dụng đo lường học là cơ sở cho chất lượng trong các quá trình và hàng hoá được sản xuất ra.
Do lường học có vai trò quan trọng trong việc thúc đây tiến bộ khoa học và công nghệ, thiết kế và sản xuất hiệu quả các sản phẩm dé phù hợp với nhu cầu của thị trường và trong việc khám phá chống lại những sự không phù hợp. Nó cung cấp sự trợ giúp cơ bản cho kiểm tra sức khoẻ và an toàn, theo dõi môi trường, chế biến thực phâm và việc thực hiện công băng luật pháp. Nó cũng cung cấp cơ sở cho thương mại công bang trong nền kinh tế nội địa và thương mại quốc tế trên thị trường toàn cầu hoá. Sự công nhận lẫn nhau về khả năng đo lường của một nền kinh tế là chuẩn mực dé rỡ bỏ các rào cản kỹ thuật đối với thương mại và đối với việc tham gia vào thoả thuận thương mại nhiều bên, ví dụ như Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Mọi Nhà nước cần phải tích cực tham gia vào những thoả thuận công nhận lẫn nhau (MRAs) toàn cầu của các tô chức quốc tế cung cấp sự tin cậy thích hợp giữa những hệ thống đo lường quốc gia.2 Thiết lập hệ thông đo lường pháp quyền Việt Nam phù hợp với đặc điểm nước ta và hài hoà với đo lường pháp quyền quốc tễ Đo lường pháp quyền bao gồm tất cả các hoạt động có những yêu cầu về luật pháp được quy định cho phép đo, đơn vị đo, phương tiện và phương pháp đo. Những hoạt động này được thực hiện bởi các cơ quan có thấm quyền hoặc nhân danh các cơ quan có thâm quyền, nhằm mục đích đảm bảo mức độ tin cậy thích hợp của kết quả đo 12 trong môi trường luật pháp quốc gia. Do lường pháp quyền không phải là một phân ngành riêng của đo lường học. Do lường pháp quyền tạo ra việc sử dung do lường khoa hoc dé nhận được những sự quy chiếu và liên kết chuẩn thích hợp, và có thể áp dụng cho bat kỳ đại lượng nao mà đo lường học hướng tới.
Do lường pháp quyền không chỉ áp dụng cho các lĩnh vực thương mại mà còn dé bảo vệ cá nhân và xã hội như là một tổng thé không phân tach (vi dụ các phép đo bắt buộc về luật pháp, các phép đo sức khoẻ va an toàn). Co quan có thâm quyền chung phải dành sự chú ý đặc biệt đối với những kết quả đo có các lợi ích trái ngược nhau, khi đó cần có sự can thiệp của một người quyết định mang tính khách quan. Do lường pháp quyền đặc biệt cần thiết khi sức mạnh của thị trường chưa được thiết lập, chưa đủ sự cạnh tranh hoặc mất thăng bằng. Nói chung, đo lường pháp quyền bao gồm các điều khoản liên quan đến đơn vị đo, kết quả đo (ví dụ hàng đóng gói sẵn) và phương tiện đo.
Những điều khoản này chứa đựng những nghĩa vụ pháp lý liên quan đến kết quả đo và phương tiện đo, bao gồm cả sự kiểm soát luật pháp được thực hiện bởi Chính phủ hoặc nhân danh Chính phủ. Việc mua bán hàng hoá và dịch vụ bao gồm việc cân hoặc đo số lượng và / hoặc chất lượng của sản phẩm, bao gồm cả sản phẩm đóng gói sẵn với việc nói rõ khối lượng, sé lượng hoặc dung tích của dai lượng va các phép đo dich vụ (ví dụ như đo thời gian, khoảng cách). Trách nhiệm điều chỉnh của Chính phủ cũng bao gồm cả luật về sức khoẻ, an toan và môi trường. Những chức năng này được phân chia về mặt bản chất nhưng có một đặc trưng chung là sự tuân thủ luật về kết quả đo.
Vì vậy các quá trình đo có sự liên quan trực tiếp với Chính phủ. Việc đưa ra các luật và quy định, sự kiểm soát phép đo thông qua việc giám sát thị trường, việc thiết lập và duy trì hạ tầng cơ sở để có thể hỗ trợ cho sự chính xác của các phép đo này (ví dụ thông qua việc liên kết chuẩn) là những yếu tố cơ ban dé Chính phủ hoàn thành vai trò của mình. ` Phạm vi của các quy định đo lường pháp quyền (vi dụ như loại phép do và phương tiện đo là đối tượng của những yêu cầu pháp luật) sẽ phụ thuộc vào tầng lớp người sử dụng mà Chính phủ nhận thấy cần phải bảo vệ và vào khả năng của những người sử dụng này để bảo vệ chính mình chống lại sự lạm dụng. Mục đích cuối cùng của đo lường pháp quyền là cung cấp sự tin cậy của kết quả đo bằng những quy định luật pháp.
Sự cần thiết và yêu cầu đối với các kết quả đo cần được xem xét trước tiên dé ấn định sự cần thiết và yêu cầu đối với phương tiện đo. Tầm quan trọng của các kết quả đo đang tăng lên không ngừng do sự phát triển vũ bão của khoa học - công nghệ và sự xuất hiện của công nghệ thông tin. Người tiêu 13 dùng và ngành công nghiệp phải đưa ra các quyết định hàng ngày dựa trên cơ sở những kết quả đo có ảnh hưởng đến kinh tế và hạnh phúc cá nhân của họ, ảnh hưởng đến kha năng đánh giá các hành động và hiệu quả của cơ quan có thầm quyên chung, các xí nghiệp và các tô chức phi chính phủ. Vì các nhà sản xuất, nhập khẩu và bán hầu hết các sản phẩm chịu trách nhiệm về những quá trình đo liên quan, nên người mua (cá nhân cũng như tập thể) nói chung không được thông tin một cách thích hợp về các quá trình này, họ bị đặt vào thé bat lợi lớn đối với các kết quả đo và sự diễn giải về những kết quả này.
Các phép đo vô tư và chính xác giúp bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh. Lý luận chung về quản lý đo lường đối với sự phát triển kinh tế- xã hội 1. Khái niệm quan lý do lường Dưới góc độ quản lý, hai đặc trưng chất lượng quan trọng nhất của phép đo là tính thống nhất và độ chính xác cần thiết của nó. Các phép đo là thống nhất khi kết quả đo được biểu thị theo đơn vị đo lường hợp pháp và sai số của nó được cho biết một cách rõ ràng, đầy đủ.
Độ chính xác của phép đo đặc trưng cho mức độ sát sao của kết quả đo so với giá trị thực của đại lượng cần đo. Sai số của phép đo càng lớn cũng có nghĩa là độ chính xác của phép đo càng thấp và ngược lại càng theo mục đích sử dụng cụ thể, mỗi phép đo phải đạt được một độ chính xác cần thiết nao đó. Khi mua bán vàng bạc ta muốn phép đo khối lượng phải chính xác hơn nhiều so với khi ta đi mua gạo, mua thịt v. Tính thống nhất và độ chính xác cần thiết là hai yêu cầu phải luôn luôn đi đôi với nhau.
Phép đo phải đồng thời thoả mãn cả hai yêu cầu này mới có giá trị sử dụng, mới thực sự có tác dụng đối với nền kinh tế quốc dân nói chung. Cần ít nhất ba yếu tố dé có thể tiến hành được các phép đo: PTD, phương pháp đo và người đo. Dé hội đủ các yếu tổ trên, trước khi thực hiện phép đo đã phải tiến hành một loạt các công việc khác nhau. Phải nghiên cứu, thiết lập các đơn vido, chuẩn của các đơn vi ấy; phải thiết kế, tổ chức sản xuất PTD; phải nghiên cứu các đại lượng cần đo và phương pháp đo chúng; phải đào tao cán bộ đo lường; phải tô chức việc bảo trì, sửa chữa, hiệu chỉnh PTĐ v.
Tất cả những công việc khác nhau đó đều hướng tới một mục tiêu chung là tạo ra các yếu tô cần thiết để có thể tiến hành được các phép đo ta gọi chung là các hoạt động đo lường bao gồm cả việc thực hiện cụ thê từng phép đo. Thường mong muốn các hoạt động đo lường phải được tiến hành như thế nào đó dé: 14 - Các đại lượng cần đo đều được đo; - Các phép đo đảm bảo được tính thống nhất và độ chính xác cần thiết; - Đo lường ở trong tình trạng luôn luôn phát triển; số đại lượng đo được ngày càng nhiều, thời gian đo ngày cảng nhanh, phạm vi đo ngày càng mở rộng, thao tác đo ngày càng đơn giản, độ chính xác đo ngày càng cao v. - Chi phí đo là ít nhất. Đề đạt được kết quả mong muốn, giống như mọi lĩnh vực hoạt động khác của xã hội, các hoạt động đo lường cần phải được quản lý một cách khoa học.
Từ những trình bày ở trên, có thể định nghĩa quản ly đo lường (QLDL) như sau: OLDL là việc xây dựng và ứng dụng các cơ sở khoa học, kỹ thuật, pháp ly, tổ chức và KT-XH dé dat được tinh thong nhất va độ chính xác can thiết của phép do với chỉ phí ít nhất. Theo những quan điểm truyền thống của điều khiển học, có thể diễn tả định nghĩa về QLDL trong Hình 1 dưới đây: Các thông tin——>| Chủ thé của bên ngoài ——> QLDL ⁄%& quả vn ne | thống Mu kê PON NN NN ‘Khoa\’ Kỹ \/ Phap\, Tổ ` Kinh tế› kiêm tra i ˆ lí „ ( „ H - vã | .