Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh tranh bằng năng lực quản lý điều hành của doanh nghiệp Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng khả năng cạnh tranh bằng năng lực quản lý điều hành của công ty Cổ phần dụng cụ cơ khí xuất khẩu Chương 4: Các kết luận và đề xuất nâng cao khả năng cạnh tranh thông qua nâng cao năng lực quản lý điều hành của công ty Cổ phần dụng cụ cơ khí xuất khẩu Luận văn tốt nghiệp 10 Nguyễn Đình Tuấn - 42A2 Luan van Trường đại học Thương mại Khoa Quản trị doanh nghiệp CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ NĂNG LỰC QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNH 2.1 Một số khái niệm và định nghĩa cơ bản 2.1 Khái niệm về cạnh tranh: Doanh nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế thị trường nên chịu sự chi phối hoạt động của các quy luật kinh tế: quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh. Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác được tự do kinh doanh, đây chính là nguồn gốc dẫn tới cạnh tranh Theo quan điểm cổ điển: Cạnh tranh là sự đấu tranh gay gắt quyết liệt giữa các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường nhằm giành giật những điều kiện kinh doanh thuận lợi nhất, thu được lợi nhuận cao nhất, tạo ra cho xã hội những sản phẩm chất lượng cao nhất và DV độc đáo nhất. Trên góc độ thị trường: Cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành KD nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng Có rất nhiều quan điểm về cạnh tranh song có thể đưa ra một khái niệm như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các nhà kinh tế là nhằm tối đa hoá lợi ích.
Đối với người kinh doanh là lợi nhuận, còn người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi 2.2 Vai trò của cạnh tranh: Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng, và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế - Đối với doanh nghiệp: Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Cạnh tranh quyết định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường thông qua thị phần của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Cạnh tranh, làm cho doanh nghiệp năng động hơn, nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các Luận văn tốt nghiệp 11 Nguyễn Đình Tuấn - 42A2 Luan van Trường đại học Thương mại Khoa Quản trị doanh nghiệp nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế - Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng.
Nhờ có cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mà người tiêu dùng có cơ hội nhận được những sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng với chất lượng và giá thành phù hợp hơn với khả năng của họ - Đối với nền kinh tế: + Cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội + Cạnh tranh tạo ra sự đổi mới mang lại sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn, giúp xoá bỏ các độc quyền bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh + Cạnh tranh giúp tăng tính chủ động sáng tạo của các doanh nghiệp, tạo ra được các doanh nghiệp mạnh hơn, một đội ngũ những người làm kinh doanh giỏi, chân chính + Cạnh tranh còn là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hợp lí giữa các loại lợi ích của các doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội.3 Phân loại cạnh tranh: Mỗi cá nhân, tổ chức kinh tế có cách nhìn nhận khác nhau về cạnh tranh. Nhưng tựu chung lại, trên thị trường có 2 hình thái cạnh tranh như sau a. Thị trường cạnh tranh: Hình thái này được xem xét dưới góc độ hành vi của thị trường, gắn liền với phương thức hình thành và vận động giá trên thị trường. Có các hình thái cạnh tranh như sau: - Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: Cạnh tranh hoàn hảo là cạnh tranh trong một mô hình kinh tế được mô tả là một mẫu kinh tế thị trường lý tưởng, Ở đó không có người sản xuất hay người tiêu dùng nào có quyền hay khả năng khống chế được thị trường, làm ảnh hưởng đến giá cả.
Tất cả các đơn vị hàng hoá trên thị trường được coi là giống nhau, ít có sự khác biệt về mẫu mã, hình thức, chất lượng. Tất cả người mua và người bán đều có hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến trao đổi, vì vậy việc tham gia và rút khỏi thị trường của họ rất dễ dàng. Do đó các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường này chủ yếu tìm biện pháp giảm chi phí tới mức thấp nhất - Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: Luận văn tốt nghiệp 12 Nguyễn Đình Tuấn - 42A2 Luan van Trường đại học Thương mại Khoa Quản trị doanh nghiệp Đây là một thị trường mà phần lớn sức mạnh thị trường thuộc về một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lớn. Các doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm hàng hoá - dịch vụ cùng chủng loại nhưng khác nhau về nhãn hiệu.
Chính những nhãn hiệu này lại mang những hình ảnh, uy tín khác nhau do người tiêu dùng nghĩ ra, có thể đúng hoặc không đúng. Do đó một số người tiêu dùng (chứ không phải tất cả) sẽ trả giá cao hơn cho sản phẩm mà mình thích. Có thể nói, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là một thị trường phổ biến trong điều kiện kinh tế hiện nay - Thị trường độc quyền: Đây là hình thái thị trường mà ở đó chỉ có một người bán nhưng nhiều người mua (gọi là độc quyền bán) hoặc chỉ có một người mua (gọi là độc quyền mua). Điều kiện gia nhập cũng như rút lui khỏi thị trường này vô cùng khó khăn do vốn đầu tư sản xuất kinh doanh thường rất lớn hoặc do sự độc quyền về kỹ thuật công nghệ.
Chính vì vậy, đặc điểm nổi bật của thị trường này không có sự cạnh tranh về giá cả mà giá cả phụ thuộc vào quyền kiểm soát của người mua độc quyền hoặc người bán độc quyền b. Cạnh tranh của doanh nghiệp: - Cạnh tranh trong việc lựa chọn yếu tố đầu vào: Là việc mà các DN tìm kiếm cho mình một nguồn cung ứng tốt nhất, đầy đủ và thường xuyên nhất và chi phí cho các yếu tố đầu vào là nhỏ nhất - Cạnh tranh trong quá trình sản xuất: Là quá trình ganh đua giữa các DN trong việc tìm câu trả lời tối ưu nhất cho các câu hỏi: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào? Bởi vì trả lời tốt được các câu hỏi này thì các DN mới có cơ hội tồn tại và phát triển được - Cạnh tranh trong quá trình tiêu thụ hàng hoá dịch vụ: Có thể nói, đây là lĩnh vực cạnh tranh gay gắt nhất, nó quyết định tính sống còn của mỗi doanh nghiệp. Trọng tâm của cuộc cạnh tranh này là sự giành giật thị trường và khách hàng của mỗi doanh nghiệp. Qua đó DN sẽ có điều kiện đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ, thực hiện mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận.2 Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp, chiếm lĩnh thị phần tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.
Khả năng cạnh tranh thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Như vậy, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Luận văn tốt nghiệp 13 Nguyễn Đình Tuấn - 42A2 Luan van Trường đại học Thương mại Khoa Quản trị doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp (công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị DN, uy tín DN…) 2.3 Năng lực quản lý điều hành doanh nghiệp Bất kể doanh nghiệp nào khi hoạt động kinh doanh cũng cần có sự điều hành của các nhà quản trị. Vai trò của các nhà quản trị trong doanh nghiệp là rất quan trọng, mỗi quyết định cũng như cách điều hành của các nhà quản trị sẽ ảnh hưởng đến tính nghiêm túc và hiệu quả trong kinh doanh của doanh nghiệp. Năng lực là khả năng làm việc.
Quản lý điều hành là quá trình tác động có ý thức và bằng quyền lực của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Quản lý điều hành trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau, theo dõi, giám sát và thúc đẩy để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung. Công việc quản lý điều hành bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên.
Như vậy năng lực quản lý điều hành là khả năng làm việc của nhà quản trị trong quá trình lãnh đạo của mình được đánh giá trên khả năng lãnh đạo của nhà quản trị 2.2 Một số lý thuyết về cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường: 2.