Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU CỦA CHÍNH PHỦ 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU CỦA CHÍNH PHỦ 1. Phân định một số khái niệm liên quan đến hoạt động xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ 1. Khái niệm về xúc tiến, xúc tiến thương mại và xúc tiến xuất khẩu Ngay từ khi xuất hiện hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá, người ta đã có những việc làm nhằm thực hiện hoạt động này một cách thuận lợi như đi tìm người muốn đổi, muốn mua; mời chào những người đi qua, …Tất cả những việc làm như vậy và tương tự ngày nay trong marketing người ta gọi chung là hoạt động xúc tiến và được định nghĩa như sau: Xúc tiến là hoạt động thông tin tới khách hàng tiềm năng.
Đó là hoạt động trao truyền, chuyển tải tới khách hàng những thông tin cần thiết về doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp, phương thức phục vụ và những lợi ích khác mà khách hàng có thể thu được từ việc mua sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp cũng như những thông tin phản hồi lại từ phía khách hàng để từ đó doanh nghiệp tìm ra cách thức tốt nhất nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng [41, tr. Đây là quan niệm về xúc tiến gắn liền với việc bán hàng của doanh nghiệp (xúc tiến bán hàng - là quan niệm truyền thống, quan niệm hẹp về xúc tiến thương mại). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 21 Cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau về xúc tiến thương mại (XTTM). Thứ nhất, theo điều 3 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, hoạt động xúc tiến thương mại được định nghĩa như sau: “Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại”[44, tr.
Định nghĩa này mới chỉ nhấn mạnh những hoạt động xúc tiến thương mại gắn trực tiếp với việc tiêu thụ hàng hoá, chưa đề cập đến những hoạt động hỗ trợ gián tiếp như cung cấp thông tin, khảo sát thị trường, tư vấn sản xuất - kinh doanh, đào tạo kỹ năng xúc tiến,… nhưng có ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành công của hoạt động mua bán hàng hoá. Thứ hai là một định nghĩa có tính tổng quát hơn về xúc tiến thương mại do TS. Phạm Quang Thao đưa ra: “Xúc tiến thương mại là các hoạt động nghiên cứu bàn giấy, khảo sát và các dịch vụ liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới hành vi mua bán nhưng không thuộc hành vi mua bán mà chỉ hỗ trợ nhằm đem lại hiệu quả cao nhất” [41, tr. Tuy nhiên, định nghĩa này cũng mang hàm ý gắn liền XTTM với hoạt động mua bán hàng hoá.
Thứ ba là một quan niệm phổ biến về XTTM trên thế giới ngày nay: “Xúc tiến thương mại là tất cả các biện pháp có tác động khuyến khích phát triển thương mại” [41, tr. Định nghĩa này vừa có tính khái quát nhất (mang nghĩa rộng) và vừa phù hợp với xu thế phát triển thương mại trên thế giới ngày nay. Ngoài ra, trên thực tế còn có nhiều tài liệu và tác giả đưa ra những định nghĩa khác về XTTM, nhưng nhìn chung đều mang nghĩa hẹp tương tự như định nghĩa thứ nhất và thứ hai. Hiện nay, để có chính sách quản lý phù hợp và sự đầu tư hiệu quả cho hoạt động XTTM, người ta đã tiến hành phân loại XTTM theo các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 22 tiêu chí cụ thể khác nhau.
Một là, theo chủ thể thực hiện, XTTM bao gồm: XTTM của thương nhân (nhằm đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ hàng hóa của họ và thương nhân kinh doanh dịch vụ XTTM); XTTM của Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ. Hai là, theo phạm vi thực hiện bao gồm: XTTM trong nước và XTTM ở nước ngoài. Ba là, theo đối tượng tác động, XTTM được chia thành: XTTM nội địa và XTTM quốc tế. Trong đó, theo quan niệm truyền thống, XTTM quốc tế bao gồm hoạt động xúc tiến xuất khẩu và hoạt động xúc tiến nhập khẩu.
Ở nhiều nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam hiện nay, quan niệm và việc thực hiện các hoạt động XTTM quốc tế thực chất là hoạt động xúc tiến xuất khẩu. Quan niệm này hoàn toàn phù hợp trong điều kiện các quốc gia ở thời kỳ đầu thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu như ở Nhật Bản những năm 50 - 60 và ở Hàn Quốc những năm 60 - 70 của thế kỷ XX [41, tr. Trước bối cảnh hội nhập kinh tế diễn ra ngày càng sâu rộng, mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế ngày càng chặt chẽ, đặc biệt là ở các nước phát triển (như Nhật Bản, Hoa Kỳ,…), XTTM quốc tế được hiểu theo nghĩa rộng hơn (bao gồm xúc tiến xuất khẩu, xúc tiến nhập khẩu và xúc tiến đầu tư nước ngoài). Đó là quan niệm phù hợp với định nghĩa của Trung tâm thương mại quốc tế (ITC) về XTTM quốc tế.
Định nghĩa này được phát biểu như sau: “Xúc tiến thương mại quốc tế (International trade promotion) của một quốc gia là hoạt động trợ giúp của Chính phủ của một nước nói chung và các tổ chức xúc tiến thương mại nói riêng nhằm thúc đẩy các hoạt động thương mại quốc tế như đầu tư nước ngoài, xuất khẩu và nhập khẩu của nước đó với cộng đồng quốc tế” [28, tr. Theo quan điểm của tác giả, Chính phủ, các tổ chức XTTM cũng như các doanh nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi quan niệm về XTTM LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 23 theo như định nghĩa trên và trước hết là thực hiện kết hợp giữa xúc tiến xuất khẩu với xúc tiến nhập khẩu cho phù hợp với điều kiện, mục tiêu phát triển kinh tế trong nước và xu thế phát triển của thương mại quốc tế. Như vậy, xúc tiến xuất khẩu (XTXK) là một bộ phận của xúc tiến thương mại quốc tế. Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau về XTXK.
Trong đó, định nghĩa chung nhất về XTXK được TS Nguyễn Thị Nhiễu giới thiệu trong cuốn “Xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ” như sau: “XTXK là các hoạt động được thiết kế để tăng xuất khẩu của một đất nước hay một doanh nghiệp” [41, tr. Đây là định nghĩa mang tính trung dung không đề cập đến chủ thể của hoạt động XTXK. Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Thị Nhiễu cũng đưa ra định nghĩa mang tính khái quát về hoạt động XTXK ở tầm vĩ mô theo quan điểm của ESCAP: “XTXK là chiến lược phát triển kinh tế nhấn mạnh đến việc mở rộng xuất khẩu thông qua các biện pháp chính sách khuyến khích, hỗ trợ cao nhất cho hoạt động xuất khẩu” [41, tr. Định nghĩa này đề cập đến hoạt động XTXK của Chính phủ theo nghĩa rộng, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của nó đối với việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu.
Một cách cụ thể, hoạt động XTXK của Chính phủ được định nghĩa như sau: “XTXK của Chính phủ là những biện pháp chính sách của Nhà nước có tác động trực tiếp hay gián tiếp khuyến khích hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp, của các ngành và của đất nước” [41, tr. Định nghĩa này đã cụ thể hoá hơn được nội dung của hoạt động XTXK và phạm vi tác động của nó. Đồng thời đây là định nghĩa rất phù hợp với quan điểm của Chính phủ Việt Nam hiện nay về hoạt động XTXK. Có thể nói, đây là khái niệm mang tính bao quát và toàn diện về XTXK của Chính phủ và phù hợp với mục tiêu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 24 tăng cường các hoạt động XTTM và XTXK của các quốc gia trong điều kiện toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại hiện nay.
Theo quan điểm của tác giả, xuất phát từ chức năng quản lý Nhà nước của Chính phủ, XTXK của Chính phủ được hiểu là tổng thể các chính sách, biện pháp và công cụ được Nhà nước sử dụng để tìm kiếm, lôi kéo, hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp và các tổ chức nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của quốc gia sang thị trường mục tiêu. Khái niệm này thể hiện và bao hàm việc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và cung cấp các dịch vụ công trong XTXK. Cụ thể là, Chính phủ tạo dựng môi trường thuận lợi (hành lang pháp lý, cơ sở hạ tầng, …) và mạng lưới các tổ chức XTXK, thực hiện các hoạt động như nghiên cứu và dự báo thị trường, lôi kéo đối tác và tạo dựng hình ảnh quốc gia thông qua tổ chức các sự kiện, hỗ trợ các doanh nghiệp và tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến mang tầm quốc gia. Đây chính là một bộ phận của chính sách hỗ trợ xuất khẩu của các quốc gia phù hợp với yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Phân định giữa khái niệm xúc tiến xuất khẩu, xuất khẩu và marketing xuất khẩu Trên thực tế, xuất khẩu, XTXK và marketing xuất khẩu có mối quan hệ mật thiết với nhau. Cụ thể là, XTXK và marketing xuất khẩu có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến sự phát triển xuất khẩu và marketing xuất khẩu là một hình thức biểu hiện cụ thể của XTXK (XTXK ở tầm vi mô hay ở tầm doanh nghiệp) [28]. Về mặt khái niệm, giữa XTXK, xuất khẩu và marketing xuất khẩu có những điểm khác nhau nhất định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 25 • Xúc tiến xuất khẩu và xuất khẩu Thông thường, xuất khẩu được hiểu là hoạt động bán hàng hóa hay dịch vụ cho nước ngoài để thu ngoại tệ [41].
Theo điều 28 - Mục 1 - Chương II - Luật Thương mại Việt Nam năm 2005: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” [44, tr. Xuất khẩu là một nội dung của hoạt động thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng. Để đẩy mạnh xuất khẩu, các quốc gia có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp được thực hiện phổ biến và có hiệu quả là tăng cường hoạt động XTTM quốc tế với sự kết hợp giữa XTXK, xúc tiến nhập khẩu và xúc tiến đầu tư nước ngoài (theo kinh nghiệm của Nhật Bản và các nước NICs).