CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lý luận về website 1.1 Khái niệm website Website là một tập hợp của rất nhiều trang web – một loại siêu văn bản (tập tin dạng HTML hoặc XHTML) trình bày thông tin trên mạng Internet – bao gồm văn bản, hình ảnh, video, flash…tại một địa chỉ nhất định – thường chỉ nằm trong một tên miền (domain name) hoặc tên miền phụ (subdomain) để người xem có thể truy cập vào xem. Trang web đầu tiên người xem truy cập từ tên miền thường được gọi là trang chủ (homepage), người xem có thể xem qua các trang khác thông qua các siêu liên kết (hyperlinks)[8]. Đặc điểm tiện lợi của website là thông tin dễ dàng cập nhật, thay đổi, người xem có thể xem thông tin ngay tức khắc, ở bất kỳ nơi nào, tiết kiệm chi phí in ấn, thông tin không giới hạn và không giới hạn phạm vi khu vực sử dụng. Một website thông thường bao gồm hai phần: giao diện người dùng (front-end) và các chương trình được lập trình để website hoạt động (back-end).
Giao diện người dùng là định dạng trang web được trình bày trên màn hình của máy tính người xem (máy khách) được xem bằng các phần mềm trình duyệt web như Internet Explorer, Firefox…Tuy nhiên ngày nay người xem có thể xem website từ các thiết bị điện tử khác như điện thoại di động, PDA…Việc trình bày một website phải đảm bảo các yếu tố về thẩm mỹ đẹp, ấn tượng, bố cục đơn giản, dễ hiểu, dễ sử dụng, các chức năng tiện lợi cho người xem. Đặc biệt ngày nay, website trở nên sống động với những hiệu ứng đa dạng của hình ảnh và chữ kết hợp với âm thanh[8]. Phần Back-end là phần lập trình của website lưu trữ trên máy chủ (server). Sự khác nhau ở phần lập trình của back-end làm chia ra hai loại website: Website tĩnh và website động.
Website tĩnh được thiết kế bằng kỹ thuật HTML (Hypertext Mark-up Language). Chỉ đáp ứng được việc giới thiệu thông tin cho người dùng xem, cao nhất là sử dụng SVTH: Nguyễn Lê Hoàng Oanh 11 van Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS.Dương Đắc Quang Hảo một Form trực tuyến (Online Form) để thu nhận ý kiến của người xem và gửi về e- mail định danh trước. Website tĩnh có thể được trang bị các kỹ thuật như Java Script, Flash Macromedia hay Animation Gif, giúp cho giao diện của các trang web thêm sống động và hấp dẫn. Website tĩnh do lập trình bằng ngôn ngữ HTML theo từng trang như brochure, không có cơ sở dữ liệu và không có công cụ quản lý thông tin trên website.
Để xây dựng một website cần phải biết kỹ thuật thiết kế trang web, thông thường bằng các phần mềm như Fontpage, Dreamwaver…khi muốn thiết kế hoặc cập nhật thông tin của những trang web này. Nói chung, đối với website tĩnh, người sử dụng không tương tác với cơ sở dữ liệu [8]. Website động (Dynamic Web Pages) thường được thiết kế bằng kỹ thuật ASP (Active Server Pages) chạy Windows hay PHP (PHP Hypertext Preprocessor) với Linux. Động ở đây xin đừng hiểu là hình ảnh sống động hoặc có thể thay đổi hình ảnh như một đoạn hoạt hình (animation).
Ở đây động là có thể giúp người xem tương tác với website. Website động cần phải có cơ sở dữ liệu và tùy theo mục đích của website, nó có thể có các thành phần như: - Inner search: Phần tìm kiếm giúp người xem nhanh chóng tìm đến một trang web trong website có chứa vấn đề mà họ quan tâm. - Member account: tài khoản dành cho Hội Viên. Với một Username và Password, Hội Viên có thể truy cập (log-in) vào một khu vực hạn chế (Member Area) có nhiều quyền lợi hơn hẳn so với khu vực công cộng (Public Area).
Việc cung cấp tài khoản này giúp cho người chủ website có thể kinh doanh website bằng cách thu phí Hội Viên (Member Fee) hoặc phân cấp quản lý nội bộ từ xa. - Shopping Cart: Thành phần giúp cho việc mua bán trên mạng (online trading) được thực hiện thông qua giả định việc chọn và bỏ món hàng đã chọn vào giỏ mua hàng. Các thông số liên quan đến món hàng sẽ được cập nhật vào tài khoản của người Mua, giúp cho việc xác định công nợ và thanh toán. - Online Payment: Thành phần giúp cho việc buôn bán trên mạng được khả thi: Tiền được trao cho Bên Bán và hàng sẽ được chuyển cho Bên Mua.
- Forum: Diễn đàn trực tuyến: Một khu vực hạn chế giúp cho các đối tượng dùng site liên hệ trực tiếp với nhau trong thời gian thực (Real Time). Khác với liên lạc bằng SVTH: Nguyễn Lê Hoàng Oanh 12 van Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS.Dương Đắc Quang Hảo e-mail có một khoảng thời gian chậm trễ (Delay) do người gửi mail và người nhận mail không trực tuyến cùng thời điểm [8]. Theo Quy chế cấp phép và cung cấp thông tin, thiết lập trang thông tin điện tử trên Internet thì website hay trang tin điện tử là loại hình bản tin thực hiện trên mạng Internet. Bách khoa về tin học định nghĩa website là một bộ sưu tập các trang web được viết bằng ngôn ngữ HTML, được liên kết với nhau và với các trang web của các website khác, được cài đặt trên máy chủ hoạt động 24 giờ một ngày trên Internet ("Computer Encyclopedia").
Dưới góc độ khoa học Thư viện và Thông tin, Từ điển trực tuyến về Khoa học Thư viện – Thông tin chỉ ra rằng: website là một nhóm các trang web có mối liên hệ và được kết nối với nhau, được cài đặt trên một máy chủ web và cho phép người sử dụng Internet truy cập 24 giờ một ngày qua phần mềm duyệt web. Trang chủ thường trình bày nhan đề của trang, tên người đại diện chịu trách nhiệm trong việc xây dựng và quản trị trang, ngày cuối cùng cập nhật. Các khái niệm liên quan đến web - Internet: thuật ngữ Internet đã được sử dụng vào những năm 1980 nhằm diễn tả mạng thông tin hỗn hợp nhiều dịch vụ được kết hợp với nhau có tính toàn cầu. Internet gồm các máy tính được liên kết với nhau sao cho chúng có thể truyền và nhận thông tin từ nơi này đến nơi khác, từ máy tính này đến máy tính khác trong phạm vi một vùng, một quốc gia hay trên toàn thế giới.
- WWW (World Wide Web) gọi tắt là web: là một trong những dịch vụ trên Internet. Tim Berners Lee được biết đến là người sáng lập ra web trong thời kỳ ông là nhà Vật lý ở viện nghiên cứu hạt nhân Châu Âu (CERN). Sở dĩ web trở nên phổ biến vì nó cung cấp cho người sử dụng khả năng truy cập dễ dàng, từ đó người sử dụng có thể khai thác các thông tin trên Internet dưới dạng văn bản, hình ảnh, thậm chí cả âm thanh và video. Vì thế web đôi khi còn được gọi là đa phương tiện của mạng Internet.
Để dùng web người ta phải có trình duyệt web như Firefox, Opera, Maxthon, Google Chrome, Internet Explorer. Trình duyệt web là một ứng dụng tương thích với máy tính của người dùng, cho phép họ nhìn thấy các trang web trên màn hình máy tính[8]. SVTH: Nguyễn Lê Hoàng Oanh 13 van Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS.Dương Đắc Quang Hảo - HTML (tiếng Anh, viết tắt cho HyperText Markup Language, tức là “Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản”), là một ngôn ngữ đánh dấu được thiết kế ra để tạo các trang web, nghĩa là các mẫu thông tin được trình bày trên World Wide Web. Được định nghĩa như là một ứng dụng đơn giản của SGML (Standard Generalized Markup HyperText Markup Language) vốn được sử dụng trong các tổ chức cần đến các yêu cầu xuất bản phức tạp, HTML giờ đây đã trở thành một chuẩn Internet do tổ chức World Wide Web Consortium (W3C) duy trì.
Nó là giao thức cơ bản mà World Wide Web sử dụng. HTTP xác định cách các thông điệp (các file văn bản, hình ảnh đồ họa, âm thanh, video và các file multimedia khác) được định dạng và truyền tải ra sao và những hành động nào mà các web server (máy chủ web) và các trình duyệt web (browser) phải làm để đáp ứng các lệnh rất đa dạng. Chẳng hạn, khi người dùng gõ một địa chỉ web URL vào trình duyệt web, một lệnh HTTP sẽ được gửi đến Web server để ra lệnh và hướng dẫn nó tìm đúng trang web được yêu cầu và kéo về mở trên trình duyệt web. Nói tóm lại, HTTP là giao thức truyền tải các file từ một web server vào một trình duyệt web để người dùng có thể xem một trang web đang hiện diện trên Internet.
HTTP là một giao thức ứng dụng của bộ giao thức TCP/IP (các giao thức nền tảng cho Internet). - Web server là máy chủ có dung lượng lớn, tốc độ cao, được dùng để lưu trữ thông tin như một ngân hàng dữ liệu, chứa những website đã được thiết kế cùng những thông tin liên quan khác (các mã Script, các chương trình, các file Multimedia). Web server có khả năng gửi đến máy khách những trang web thông qua môi trường Internet (hoặc Intranet) qua giao thức HTTP – giao thức được thiết kế để gửi các file đến trình duyệt web (web browser) và các trình duyệt khác. Tất cả các web server đều có một IP Address (địa chỉ IP) hoặc cũng có thể có một Domain Name.
Giả sử khi người dùng đánh vào thanh Address trên trình duyệt web một dòng http://www.com sau đó gõ phím Enter thì tức là đã gửi một yêu cầu đến một server có domain name là www. Server này sẽ tìm trang web có tên là index.htm rồi gửi nó đến trình duyệt của người dùng đó [8]. SVTH: Nguyễn Lê Hoàng Oanh 14 van Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS.Dương Đắc Quang Hảo Bất kỳ một máy tính nào cũng có thể trở thành một web server bởi việc cài đặt lên nó một phần mềm Server Software và sau đó kết nối vào Internet. Khi máy tính của người dùng kết nối đến một web server và gửi đến yêu cầu truy cập các thông tin từ một trang web nào đó, Web Server Software sẽ nhận yêu cầu và gửi lại những thông tin mà người dùng mong muốn.
Giống như những phần mềm khác, Web Server Software cũng chỉ là một ứng dụng phần mềm. Nó được cài đặt và chạy trên máy tính dùng là Web server, nhờ có chương trình này mà người sử dụng có thể truy cập đến các thông tin của trang Web từ một máy tính khác ở trên mạng (Internet, Intranet). Web Server software còn có thể được tích hợp với Database (cơ sở dữ liệu) hay điều khiển việc kết nối vào cơ sở dữ liệu để có thể truy cập và kết xuất thông tin từ cơ sở dữ liệu lên các trang web và truyền tải chúng đến người dùng. Server phải hoạt động 24/24 giờ, 7 ngày một tuần và 365 ngày một năm để phục vụ cho việc cung cấp thông tin trực tuyến.