Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên qua đến nội dung nghiên cứu đề tái 1. Khái niệm di dân 1. Theo Liên hợp quốc Di dân là một hình thức di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị địa lý hành chính này đến một đơn vị hành chính khác, kèm theo sự thay đổi thường xuyên trong khoảng thời gian di dân xác định.
Định nghĩa của liên hợp quốc đã loại ra những trường hợp người sống lang thang, dân du mục, di dân theo mùa và di dân theo kiểu con lắc (đi về hàng ngày). Nhìn chung, ở đa số các nước, dân cư di chuyển ra khỏi giới hạn hành chính của một thành phố, tỉnh, huyện trong một khoảng thời gian xác định được xem là di dân. Hình thức di dân phụ thuộc vào mục đích di dân, phạm vi di dân theo lãnh thổ, mô hình tổ chức di cư…. Trong thực tế, các hnình thức di dân có quan hệ và tác động lẫn nhau rất chặt chẽ, biểu hiện khác nhau trong điều kiện cụ thể.
Do vậy, sự phân chia hay phân loại chỉ mang tính chất tương đối. Theo wikipedia Sự di cư của người là sự thay đổi chỗ ở của các cá thể hay các nhóm người để tìm chỗ ở tốt hơn, phù hợp hơn nơi ở cũ để định cư. Những cá nhân tham gia vào việc di chuyển chỗ ở là dân di cư. Trong chiến tranh hay khi có thiên tai, việc thay đổi chỗ ở đến nơi an toàn hơn còn gọi là tản cư và người dân di chuyển kiểu này còn được gọi là dân tản cư; việc thay đổi chỗ ở này là tạm thời, khi hết chiến tranh hoặc thiên tai đã qua thì thường họ lại trở về chỗ ở cũ.
Người di cư trong trường hợp phải chạy trốn ra một xứ khác để thoát cảnh hiểm nguy, ngược đãi, hoặc bắt bớ bởi một quyền lực ở chốn cư ngụ còn được gọi là người tỵ nạn. 5 Việc chuyển chỗ ở hàng loạt một cách cấp thời dù tự nguyện hay do cưỡng bách để tránh các tai họa đột ngột do thiên tai như lũ lụt, động đất, sụt đất, bão; do con người như chiến tranh, thay đổi chế độ, do dịch bệnh, do ô nhiễm, do nguy cơ sập nhà từ nơi này sang nơi khác hay sang nước khác thì gọi là di tản, chạy nạn, chạy giặc; những người dân ra đi thì gọi là dân di tản. Người di cư khi đã vượt biên giới sang nước khác thì gọi là người tỵ nạn, họ được Tổ chức Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tỵ nạn bảo vệ và giúp đỡ. Khái niệm về tái định cư Tái định cư là một khái niệm mang nội hàm khá rộng.
Có thể khái quát rằng, tái định cư dùng để chỉ những ảnh hưởng tác động đến đời sống của người dân do bị mất tài sản và nguồn thu nhập trong quá trình phát triển dự án gây ra, bất kể có phải di chuyển hay không và các chương trình nhằm khôi phục cuộc sống của họ. Tái định cư bao hàm cả việc thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất. Tái định cư theo nghĩa hẹp là quá trình di chuyển người dân đến nơi ở mới.1- Theo chính sách về Tái định cư bắt buộc của Ngân hàng Thế giới (OP 4.12) Tái định cư bao hàm tất cả những thiệt hại trực tiếp về kinh tế và xã hội gây ra bởi việc thu hồi đất và hạn chế sự tiếp cận, cùng với những biện pháp đền bù và sửa chữa. Tái định cư không hạn chế ở sự di dời về mặt vật chất.
Tái định cư có thể, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, bao gồm (a) Thu hồi đất và các công trình trên đất, bao gồm cả việc kinh doanh, buôn bán; (b) sự di dời về mặt vật chất; và (c) sự khôi phục kinh tế của những người bị ảnh hưởng nhằm cải thiện (hoặc ít nhất là phục hồi) thu nhập và mức sống [10]. Tái định cư không chỉ là một hoạt động dịch chuyển đơn thuần, mà là một bài toán phức tạp với nhiều chiều, nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống, nhằm đảm bảo sự đồng thuận và phát triển xã hội bền vững. Để đạt được điều đó, cùng với việc xây nhà ở tái định cư, còn là việc giải quyết những vấn đề về kinh tế - xã hội, để đời sống của dân tái định cư phát triển ổn định và hiệu quả. 6 Quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa tất yếu đòi hỏi phải tiến hành nhiều hoạt động đầu tư xây dựng trên đất.
Có những dự án được thực hiện trên đất nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp. Song cũng có những dự án phải xây dnựg trên khu vức dân cư đã và đang sinh sống lâu đời. Việc di dời họ đến nơi ở mới, nhường lại đất để thực hiện các công trình, dự án chính là quá trình tái định cư. Như vậy, tái định cư là một dạng của cơ động xã hội về nơi ở, nhà ở, dưới hình thức bắt buộc.
Và do vậy nó thường đòi hỏi những chủ thể quản lý phải có chính sách, những quy tắc và cách ứng xử khác biệt so với các loại hình cơ động xã hội khác. Theo các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Việt Nam thì tái định cư dùng để chỉ những ảnh hưởng tác động đến đời sống của người dân do bị mất tài sản và nguồn thu nhập trong quá trình phát triển dự án gây ra, bất kể có phải di chuyển hay không và các chương trình nhằm khôi phục cuộc sống của họ. Tái định cư bao hàm cả việc thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất. Tái định cư theo nghĩa hẹp là quá trình di chuyển người dân đến nơi ở mới.
Hiện nay, Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khi đất đai được xác định là nguồn vốn quý giá, nguồn nội lực quan trọng, quyền sử dụng đất trở thành hàng hoá thì kinh tế từ đất đai luôn được các chủ thể sử dụng đất quan tâm. Để đảm bảo quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để cho phù hợp với thực tế qua từng thời kỳ, theo đó, người bị ảnh hưởng được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi họ bị thu hồi đất với phương châm vì lợi ích của con người là căn bản. Các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam quy định việc tái định cư như sau: 7 - Khu tái định cư phải được quy hoạch chung và sử dụng cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ; - Việc lập dự án và xây dựng khu tái định cư thực hiện theo quy định hiện hành về quản lý đầu tư và xây dựng; - Cơ quan (tổ chức) được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giao trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho từng hộ gia đình bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai phương án này tại trụ sở của đơn vị, tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi và tại nơi tái định cư trong thời gian 20 ngày trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định cư. Cùng với việc xây dựng khu tái định cư, còn quy định các biện pháp hỗ trợ sản xuất và đời sống tại khu tái định cư như: hỗ trợ giống cho vụ sản xuất nông nghiệp đầu tiên, các dịch vụ khuyến nông, dịch vụ bảo vệ thực vật, kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất kinh doanh dịch vụ công thương nghiệp, hỗ trợ để tạo lập một số nghề tại khu tái định cư phù hợp cho những người lao động, đặc biệt là lao động nữ.
Bên cạnh đó, còn quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở. Khái quát về chính sách giải phóng mặt bằng của một số nước trên thế giới 1. Ngân hàng thế giới (WB) Hầu hết các dự án được tài trợ bởi vốn vay của ngân hàng Thế giới (WB) đều có chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do các dự án này đưa ra. Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của tổ chức này có nhiều khác biệt so với luật, quy định, chính sách của nhà nước Việt Nam nên có những khó khăn nhất định, nhưng bên cạnh cũng có những ảnh hưởng tích cực tới việc hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất của Việt Nam [23].
8 Tất cả mọi vấn đề kinh tế, xã hội phát sinh từ việc thu hồi đất gây ra cho người bị thu hồi đất đều được chính sách của WB quan tâm. Trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì vấn đề tái định cư được WB quan tâm nhiều hơn, hỗ trợ những người bị ảnh hưởng trong suốt quá trình tái định cư, từ việc tìm nơi ở mới thích hợp cho một khối lượng lớn chủ sử dụng đất phải di chuyển, tổ chức các khu tái định cư, trợ giúp chi phí vận chuyển, xây dựng nhà ở mới, đào tạo nghề nghiệp, cho vay vốn phát triển sản xuất, cung cấp các dịch vụ.tại khu tái định cư. Ngân hàng phát triển Châu á (ADB) Khung chính sách của Ngân hàng phát triển Châu á được xây dựng với mục tiêu tránh việc tái định cư bắt buộc bất cứ khi nào có thể được hoặc giảm thiểu tái định cư nếu không thể tránh khỏi di dân; đảm bảo những người phải di chuyển được giúp đỡ để ít nhất họ cũng đạt mức sống sung túc như lẽ họ sẽ có được nếu không có dự án hoặc tốt hơn [22]. Với các nguyên tắc cơ bản là: - Cần tránh hoặc giảm thiểu tái định cư bắt buộc và thiệt hại về đất đai, công trình, các tài sản và thu nhập bằng cách khai thác mọi phương án khả thi.