Tổng quan nghiên cứu

Dự án xây dựng Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang trên sông Gâm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 288/QĐ-TTg ngày 19/04/2003 với tổng mức đầu tư hơn 7.000 tỷ đồng, công suất thiết kế 342 MW và cung cấp sản lượng điện bình quân hàng năm đạt 1.295 triệu kWh. Để bàn giao mặt bằng phục vụ thi công và tích nước lòng hồ, tỉnh Tuyên Quang đã thực hiện di dời và bố trí tái định cư cho 4.191 hộ với 20.138 nhân khẩu thuộc 88 thôn, bản đến 125 điểm tái định cư trên địa bàn 36 xã thuộc 4 huyện.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm nảy sinh từ khoảng cách giữa mục tiêu chính sách "đảm bảo người dân có cuộc sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ" với thực tế đời sống nhân dân sau di dời, khi tỷ lệ hộ nghèo tại các điểm tái định cư vẫn ở mức cao xấp xỉ 53%. Người dân đối mặt với tình trạng thiếu hụt đất canh tác màu mỡ, thu nhập sụt giảm và gặp nhiều trở ngại trong chuyển đổi việc làm. Mục tiêu cụ thể của luận văn là phân tích thực trạng đời sống, việc làm, thu nhập và công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại huyện Hàm Yên và huyện Chiêm Hóa, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách nhằm sớm ổn định hậu sinh kế.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trong thời gian 14 tháng (từ tháng 8/2014 đến tháng 9/2015) tại hai huyện tiếp nhận trọng điểm là Hàm Yên và Chiêm Hóa. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng chuẩn xác về mức độ biến động kinh tế - xã hội, đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc thực thi Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg và Nghị định số 69/2009/NĐ-CP của Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng chính sách Tái định cư bắt buộc OP 4.12 của Ngân hàng Thế giới (WB) và Khung chính sách an toàn xã hội của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Các khung lý thuyết quốc tế này nhấn mạnh nguyên tắc hạn chế tối đa tái định cư cưỡng bức, xác định tái định cư là một chương trình phát triển bền vững, đồng thời yêu cầu chi trả bồi thường theo giá thay thế và phục hồi toàn diện nguồn sinh kế cho người bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, đề tài tiếp cận lý thuyết về cơ động xã hội bắt buộc, chỉ rõ việc di dời không thuần túy là sự dịch chuyển không gian cơ học mà là quá trình tái cấu trúc các mối quan hệ kinh tế, văn hóa và mạng lưới an sinh xã hội.

Các khái niệm chính được làm rõ bao gồm: Di dân bắt buộc, Tái định cư tập trung, Phục hồi sinh kế và Giá trị bồi thường đất đai. Hệ thống cơ sở pháp lý tham chiếu xuyên suốt gồm: Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 16/2009/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2003 - 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Ban Quản lý dự án di dân tái định cư, Chi cục Thống kê và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội của hai huyện Chiêm Hóa và Hàm Yên.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa với cỡ mẫu 79 hộ gia đình tái định cư tại 8 điểm tái định cư thuộc 8 xã trên địa bàn hai huyện. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo nhóm hộ bị ảnh hưởng bởi dự án tại từng thôn bản, đảm bảo tính đại diện cho cộng đồng di dân.

Phương pháp phân tích số liệu bao gồm: Thống kê mô tả, thống kê so sánh đối chiếu chỉ số trước - sau di dời và kế thừa tài liệu chuyên ngành, được xử lý khoa học trên phần mềm Microsoft Excel. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác các biến động về diện tích đất đai, cơ cấu việc làm và thu nhập hộ gia đình, bảo đảm độ tin cậy và tính khách quan cao trong suốt quá trình nghiên cứu thực địa kéo dài 14 tháng (tháng 8/2014 đến tháng 9/2015).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quỹ đất sản xuất nông nghiệp bị suy giảm nghiêm trọng. Trước khi di chuyển năm 2003, bình quân một hộ dân vùng lòng hồ sở hữu khoảng 8.700 m2 đất nông nghiệp (gồm 1.200 m2 đất lúa 1 vụ, 1.600 m2 đất lúa 2 vụ, 4.900 m2 đất màu và 800 m2 đất vườn). Tuy nhiên, khi chuyển về nơi ở mới tại Hàm Yên và Chiêm Hóa, hạn mức đất ở chỉ được giao từ 200 m2 đến 400 m2/hộ và diện tích đất canh tác nông nghiệp màu mỡ bị cắt giảm hơn 65%, dẫn đến tình trạng thiếu tư liệu sản xuất gay gắt.

Thứ hai, nguy cơ bần cùng hóa và tỷ lệ hộ nghèo duy trì ở mức cao. Trong cộng đồng di dân, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 89,8% (dân tộc Tày chiếm 54,8%, dân tộc Dao 29,2%, dân tộc H'Mông 5,8%, người Kinh chiếm 10,2%), với 92% làm nông nghiệp truyền thống. Trước dự án, thu nhập bình quân đạt khoảng 7,2 triệu đồng/hộ/năm (xấp xỉ 1,4 triệu đồng/người/năm) và tỷ lệ hộ nghèo chỉ ở mức 8,1%. Sau khi di dời, tỷ lệ hộ nghèo tại các điểm tái định cư đã tăng vọt lên khoảng 53%.

Thứ ba, cơ cấu sử dụng tiền bồi thường chưa mang lại hiệu quả sinh kế lâu dài. Thống kê cho thấy hơn 70% tổng kinh phí bồi thường và hỗ trợ được các hộ dân sử dụng vào việc dựng lại nhà ở kiên cố và mua sắm tiện nghi sinh hoạt; chỉ có khoảng 15% nguồn vốn được đầu tư cho sản xuất nông nghiệp và dưới 5% được dành cho việc học nghề chuyển đổi việc làm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do công tác quy hoạch điểm tái định cư chưa đồng bộ với việc khai hoang tạo quỹ đất sản xuất. Địa hình đồi dốc tại nơi ở mới không phù hợp với tập quán canh tác lúa nước vùng thung lũng của đồng bào dân tộc Tày và Dao. Kết quả nghiên cứu tương đồng với các công trình đánh giá về Thủy điện Sơn La và Thủy điện Hòa Bình, khẳng định tính đúng đắn của mô hình cảnh báo rủi ro bần cùng hóa từ Ngân hàng Thế giới khi người dân mất đi nguồn vốn tự nhiên cốt lõi.

Dữ liệu thực nghiệm của luận văn được trực quan hóa thông qua Bảng so sánh biến động đất đai và thu nhập trước - sau di dời, kết hợp với Biểu đồ cột phân bố tỷ lệ hộ nghèo và Biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu sử dụng tiền bồi thường của 79 hộ khảo sát, làm nổi bật bức tranh tổng thể về những thách thức sinh kế sau tái định cư.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch bổ sung và giao đất sản xuất nông - lâm nghiệp: Ủy ban nhân dân huyện Hàm Yên và huyện Chiêm Hóa cần chủ trì rà soát lại quỹ đất lâm trường, tiến hành khai hoang và giao bổ sung từ 0,5 ha đến 1,0 ha đất rừng sản xuất cho mỗi hộ tái định cư trong giai đoạn 2016 - 2018, giúp 100% hộ dân có đủ tư liệu sản xuất lâm nghiệp bền vững.

Thứ hai, đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các trung tâm dạy nghề mở các lớp đào tạo phi nông nghiệp miễn phí (sửa chữa cơ khí, may mặc, chế biến nông - lâm sản) cho lao động trong độ tuổi từ 18 đến 35 tuổi, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ dưới 15% lên trên 45% trong vòng 24 tháng.

Thứ ba, hoàn thiện đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật và thủy lợi: Ban Quản lý dự án di dân tái định cư tỉnh Tuyên Quang cần bố trí vốn kiên cố hóa 100% hệ thống kênh mương tưới tiêu và đường giao thông nội đồng tại 8 điểm tái định cư trọng điểm trước năm 2017, bảo đảm cấp nước tưới ổn định cho trên 80% diện tích đất canh tác vụ đông và lúa 2 vụ.

Thứ tư, thiết lập gói tín dụng ưu đãi phục hồi sinh kế hộ gia đình: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Tuyên Quang cần giải ngân gói vay ưu đãi hạn mức từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng/hộ với mức hỗ trợ 50% lãi suất trong 3 năm đầu, nhằm tạo điều kiện cho ít nhất 80% số hộ tái định cư có vốn phát triển chăn nuôi đại gia súc và cây ăn quả đặc sản.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý Nhà nước: Cán bộ chuyên trách tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các cấp có thể tham khảo luận cứ thực tế để hoàn thiện quy định bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP cho hơn 4.000 hộ dân vùng dự án.

Thứ hai, ban quản lý các dự án thủy điện, thủy lợi và hạ tầng: Các đơn vị quản lý dự án lớn như Tập đoàn Điện lực Việt Nam có thể vận dụng phương pháp đánh giá mặt bằng và mô hình hậu sinh kế tại 125 điểm tái định cư để xây dựng phương án giảm thiểu rủi ro cho các dự án phát triển tương lai.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận văn là nguồn tài liệu học thuật giá trị cho chuyên ngành Phát triển nông thôn, Quản lý đất đai và Xã hội học với mẫu khảo sát thực chứng 79 hộ tại 8 xã miền núi.

Thứ tư, các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ: Các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) có thể sử dụng dữ liệu luận văn để đánh giá tác động an sinh xã hội và giám sát tính bền vững đối với hơn 89% đồng bào dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

Dự án Thủy điện Tuyên Quang đã di dời bao nhiêu hộ dân và bố trí tái định cư tại những đâu?

Dự án đã di dời 4.191 hộ với 20.138 nhân khẩu tại tỉnh Tuyên Quang. Toàn bộ người dân được bố trí vào 125 điểm tái định cư tập trung và xen ghép trên địa bàn 36 xã thuộc 4 huyện Na Hang, Chiêm Hóa, Hàm Yên và Yên Sơn.

Tại sao tỷ lệ hộ nghèo tại các điểm tái định cư huyện Hàm Yên và Chiêm Hóa lại ở mức cao khoảng 53%?

Nguyên nhân chủ yếu do diện tích đất canh tác nông nghiệp bình quân bị giảm hơn 65% so với trước khi di dời (từ 8.700 m2/hộ xuống mức rất thấp). Thêm vào đó, 89,8% người dân là đồng bào dân tộc thiểu số chưa kịp thích nghi với kỹ thuật canh tác mới và thiếu cơ hội việc làm phi nông nghiệp.

Sự thay đổi về diện tích đất sản xuất ảnh hưởng như thế nào đến kinh tế hộ gia đình?

Trước khi di dời, các hộ sở hữu tới 1.600 m2 đất lúa 2 vụ và 4.900 m2 đất màu, bảo đảm tự túc lương thực. Khi chuyển đến nơi ở mới, hạn mức đất ở chỉ còn từ 200 m2 đến 400 m2/hộ, buộc người dân phải chuyển dịch sang làm thuê mùa vụ với thu nhập không ổn định.

Luận văn đã áp dụng quy mô mẫu khảo sát thực địa như thế nào để bảo đảm tính khoa học?

Tác giả đã triển khai điều tra với cỡ mẫu 79 hộ theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại 8 điểm tái định cư thuộc 8 xã của hai huyện (khoảng 10 hộ/điểm), đại diện cho các nhóm hộ đồng bào Tày, Dao, H'Mông bị thu hồi đất.

Bài học từ dự án Thủy điện Tuyên Quang đóng góp gì cho các chính sách tái định cư quốc tế?

Thực tiễn nghiên cứu chứng minh việc đền bù tiền mặt một lần không thể thay thế cho việc tạo lập sinh kế lâu dài, qua đó củng cố yêu cầu phục hồi thu nhập bền vững theo khung an toàn xã hội OP 4.12 của Ngân hàng Thế giới.

Kết luận

  • Dự án Thủy điện Tuyên Quang đã hoàn thành di dời quy mô lớn với 4.191 hộ dân, đảm bảo mục tiêu phát điện công suất 342 MW và cung cấp 1.295 triệu kWh/năm cho mạng lưới điện quốc gia.
  • Hậu sinh kế của đồng bào gặp nhiều khó khăn khi diện tích đất sản xuất nông nghiệp sụt giảm hơn 65% và tỷ lệ hộ nghèo duy trì ở mức cao khoảng 53%.
  • Cơ cấu cộng đồng với 89,8% đồng bào dân tộc thiểu số đòi hỏi chính sách hỗ trợ sản xuất phải tôn trọng và hòa nhập với tập quán canh tác truyền thống.
  • Luận văn đã đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp trọng tâm: giao bổ sung 0,5 ha đến 1,0 ha đất rừng/hộ, đào tạo nghề cho trên 45% lao động trẻ, hoàn thiện 100% thủy lợi nội đồng và giải ngân vốn ưu đãi từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng/hộ.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của đề tài là hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác quản lý phát triển nông thôn bền vững.

Về định hướng tiếp theo, chính quyền địa phương cần duy trì cơ chế giám sát độc lập định kỳ 6 tháng một lần đến hết năm 2018 nhằm bảo đảm 100% hộ dân ổn định đời sống. Các nhà khoa học và cơ quan quản lý hãy ứng dụng ngay mô hình đánh giá toàn diện của luận văn vào thực tiễn quy hoạch các dự án tái định cư hiện hành.