đặt vấn đề dân tộc lên trên hết, các nhà thơ từ bỏ cái tôi cá nhân để cái riêng tư hòa cùng cái chung dân tộc. Cái tôi hòa với cái ta cộng đồng để khi giao tiếp thường xưng là ta, chúng ta. Qua đó để thấy rằng sự biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ là đa dạng, muôn hình muôn vẻ. Có 3 dạng thức bộc lộ của cái tôi trữ tình trong luận văn nghiên cứu Cái tôi trữ tình thơ trẻ đương đại (qua Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Văn Cầm Hải), tác giả Phan Trắc Thúc Định có thống kê: 18 “Thứ nhất, dạng trực tiếp của một tình cảm riêng tư, một câu chuyện, một cảnh ngộ, một sự việc gắn với cuộc đời riêng của người viết.
Trong những trường hợp ấy, cái tôi trữ tình rất gần hoặc cũng chính là cái tôi tác giả và nhà thơ thường sử dụng một cách bộc lộ trực tiếp qua chữ “tôi”. Thường thì cái tôi trong thơ bộc lộ trực tiếp trong trường hợp viết về chính bản thân mình và trong những mối quan hệ riêng tư. Thứ hai, cảnh ngộ, sự việc trong thơ không phải là cảnh ngộ riêng của tác giả. Nhà thơ nói lên cảm nghĩ về những sự kiện mà mình có dịp trải qua hoặc chứng kiến như một kỉ niệm, một quan sát.
Cái tôi trữ tình ở đây là nhân vật trữ tình chủ yếu sáng tác. Thứ ba, những bài thơ trữ tình viết về nhân vật nào đó, những nhân vật này có khi là những điển hình có thực ngoài đời. Đó là những nhân vật trữ tình của nhà thơ (cái tôi trữ tình là một loại nhân vật ít xác nhận cụ thể). Trong những trường hợp trên, tuy cái tôi của nhà thơ không bộc lộ trực tiếp nhưng qua sáng tác vẫn nổi lên cái tôi trữ tình.
Ở trường hợp thứ hai và thứ ba, cái tôi trữ tình là cái tôi của tác giả được nghệ thuật hóa thành nhân vật trữ tình trong thơ”.11] Nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành trong cuốn “Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam” cũng cho rằng: “Thơ trữ tình là những“bản tốc kí nội tâm”, nghĩa là sự tuôn trào hình ảnh và từ ngữ trong một trạng thái cảm xúc mạnh mẽ của người sáng tạo. Chính vì vậy, về bản chất, mọi nhân vật trữ tình trong thơ chỉ là những biểu hiện đa dạng của cái tôi trữ tình” [80,tr.166] Hay “Cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiện dưới hai dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp. Thơ trữ tình coi trọng sự biểu hiện cái chủ thể đến mức như là nhân vật chủ yếu số một trong mọi bài thơ. Tuy nhiên, do sự chi phối của quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định”.57] 19 Vũ Tuấn Anh nhận định: “Cái tôi trữ tình là một sự tổng hòa nhiều yếu tố, là sự hội tụ, thăng hoa theo quy luật nghệ thuật cả ba phương diện cá nhân – xã hội – thẩm mĩ trong hình thức thể loại trữ tình” [3,tr.
Như vậy, có thể thấy, cái tôi trữ tình biểu hiện trong thơ ở ba bình diện lớn: bình diện mang tính độc đáo riêng biệt, bình diện tư tưởng xã hội và bình diện sáng tạo nghệ thuật.3 Hành trình sáng tạo thơ của Nguyễn Bảo Chân, Nguyễn Phan Quế Mai 1.1 Nguyễn Bảo Chân Nguyễn Bảo Chân sinh ngày 23-11-1969, quê Thanh Hóa, sinh sống và làm việc tại Hà Nội trong một gia đình trí thức. Nguyễn Bảo Chân đã sớm thừa hưởng sự thông minh hóm hỉnh của cha và sự tinh tường của mẹ. Cha chị là nhà văn Nguyễn Anh Biên, còn mẹ là NSƯT Ngọc Hiền công tác tại Đoàn kịch Hải Phòng. Cuộc sống gia đình không êm ấm, vì nhiều lý do, bố mẹ chị đã chia tay khi Bảo Chân lên 2 tuổi.
Chị sống với mẹ, rồi về ở với bà ngoại. Khi bà ngoại mất, chị trở về sống với cha. Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Sân khấu điện ảnh, năm 22 tuổi, Nguyễn Bảo Chân chọn sống tự lập một mình trong một ngôi nhà cạnh sông Hồng. Căn nhà nằm vị trí khá thấp, cứ mưa xuống là nước vào tận chân giường.
Đêm đêm, những giấc mộng cứ dập dềnh trên sóng. Sau một thời gian, Nguyễn Bảo Chân bán căn nhà ven sông và mua căn hộ trên tầng cao nhất của khu tập thể gần phố Nguyễn Thái Học. Căn nhà nhỏ đầy ắp kỷ vật quá khứ với những bức ảnh đen trắng từ thời bà ngoại, bố mẹ được xếp cẩn thận trên giá sách, những cuốn sách cũ xếp gọn gàng. Ngôi nhà nhỏ xinh là nơi chứng kiến những niềm vui, nỗi buồn, tiếng cười và cả giọt nước mắt của chị sau những mất mát của tình yêu, cuộc sống.
Ngôi nhà từng xuất hiện trong sáng tác của chị. 20 Cho đến khi ngoài 40 tuổi, trong lần xuất hiện trên Báo Công an nhân dân (Bài viết vào tháng 3-2011), Nguyễn Bảo Chân vẫn là người đàn bà cô đơn, sống một mình và không tránh khỏi những câu hỏi từ bạn bè, người thân, người quen và ngay cả với chính bản thân mình. Nhưng dường như những tác động ngoại cảnh không quá quan trọng, bởi Nguyễn Bảo Chân lựa chọn một cuộc sống cho mình, hạnh phúc vì sự lựa chọn của mình. Những va vấp của cuộc đời đã tạo nên một người đàn bà cứng cỏi, đầy bản lĩnh nhưng ẩn sâu bên trong là một tâm hồn đàn bà nhạy cảm và đa cảm.
Nguyễn Bảo Chân tìm đến thơ, nương bóng mình vào những vần thơ như một điều tất yếu. Thơ chị như những khối ru-bic được chồng lên nhau về cuộc sống mà chị từng trải qua. Đó là những suy cảm về cha, về mẹ, về những đổ vỡ trong cuộc sống hôn nhân của họ tạo nên một cô bé Bảo Chân tự lập, tự đứng trên đôi chân để bước đi với cuộc đời. Đó là những tình cảm khi viết về bà ngoại, về hoài niệm tuổi thơ sống bên bà, để giờ đây khi cuộc sống bất ổn, chị lại nương tựa vào bóng hình bà như một chốn nương thân dù bà đã đi xa.
Nguyễn Bảo Chân đã yêu và đang yêu, đã chứng kiến và cũng đã trải qua những chia ly, mất mát trong tình yêu. Chính những ký ức đó đã để lại trong đời và trong thơ những dấu vết như Nguyễn Bảo Chân từng tâm sự: “Tôi luôn lắng nghe thế giới bên ngoài, lắng nghe mọi người, lắng nghe chính bản thân mình. Tôi thoắt băng qua cuộc sống ồn ào náo động này. Nhưng cũng có những khoảnh khắc mọi âm thanh hỗn tạp bỗng trở nên câm nín, đó là lúc Thơ cất lời.8], tạo nên “vốn liếng” trong thơ và cho chính cuộc đời: “Tôi chưa bao giờ nuối tiếc hay oán trách bất cứ ai, bất cứ điều gì trong quá khứ.
Tôi quan niệm, cuộc đời mỗi người là một hành trình của số phận, ta phải đi từ nơi xuất phát đến những cái đích nào đó. Tôi đã không thể chọn cho mình một số phận dễ dàng hơn, nên tôi lấy tất cả những vấp ngã, những 21 đau đớn, những thất bại cũng như những hạnh phúc, niềm vui, sự may mắn mà tôi có được làm vốn liếng của riêng mình”. [42] Nguyễn Bảo Chân hiện là Biên tập viên Đài Truyền hình Việt Nam, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2002.2 Nguyễn Phan Quế Mai Bình Nguyên Trang, trên Báo Sức khỏe và Đời sống đã từng viết rằng: “Nguyễn Phan Quế Mai có lẽ là một trong những câu chuyện ngạc nhiên và ấn tượng nhất trong đời sống văn học Việt Nam 2010. Việc làm thơ đối với Nguyễn Phan Quế Mai là một thứ bản năng”.
[89] Quả thực đúng như vậy, Nguyễn Phan Quế Mai từng thú thực rằng “tôi chưa từng được học qua trường lớp viết văn nào, chưa từng tiếp cận lý luận về thi ca. Chỉ đơn giản là một ngày nào đó tôi có nhu cầu cầm bút và viết thôi”. Nguyễn Phan Quế Mai tên thật là Nguyễn Thị Quế, sinh ngày 12-8- 1973 tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Năm lên 6 tuổi chị theo gia đình vào sinh sống tại Bạc Liêu.
Chị tốt nghiệp Khoa quản trị kinh doanh, Chuyên ngành truyền thông của Trường Đại học Monash (Melbourne – Úc) theo chương trình học bổng của chính phủ Australia. Sau đó, Nguyễn Phan Quế Mai theo học Thạc sĩ ngành viết văn theo học bổng của Trường đại học Lancaster (Anh). Nguyễn Phan Quế Mai từng chia sẻ về tuổi thơ lam lũ cùng nỗ lực vươn lên trong học tập của mình trong bài phỏng vấn trên báo Sức khỏe và Đời sống như sau: “Tôi sinh ra ở Ninh Bình, bố mẹ làm giáo viên nhưng nghèo lắm. Năm 1979, cha mẹ đưa anh chị em chúng tôi đi khai hoang.
Nơi chúng tôi đến là mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc, đó là Bạc Liêu. Tôi bị chúng bạn kỳ thị và lúc nào cũng đầy mặc cảm vì cuộc sống nghèo khó, chồng chất nợ nần của cha mẹ. Tôi thường phải dậy từ 4h sáng hằng ngày để đi kéo tép. Trên vai tôi 22 lúc nào cũng có hàng chục cái vó.
Tôi đi vào những bãi tha ma, nơi có những cái ao, cái đầm nước mà ít người dám đến, kéo vó đến 6h sáng thì mang ra chợ bán. Rồi tôi về nhà ăn cơm nguội, rồi lại đi ra đồng cắt rau muống và đi bỏ mối ngoài chợ. Số tiền ít ỏi kiếm được tôi đỡ đần cha mẹ trang trải cuộc sống. Có những mùa hạn hán, đồng ruộng nứt nẻ, cha con tôi phải nhọc nhằn đi gánh nước về tưới lúa.
Đứa trẻ là tôi khi đó luôn luôn có cảm giác về một cuộc sống không lối thoát. Tôi chỉ dám mơ ước sau này mình sẽ trở thành một cô giáo dạy cấp 2, thậm chí là một người nông dân cầm cày đi sau con trâu. Tôi có nghĩ đến học ngoại ngữ là một lối thoát cho mình, để bay ra khỏi sự nghèo khó, nhưng khốn nỗi cha mẹ lại không có tiền cho tôi đi học. Rồi tôi biết có một ông thầy chuyên dạy ngoại ngữ cho trẻ em nghèo tên là Trương Văn Ánh.
Tôi tìm đến lớp của thầy thì thấy trong lớp học có cả trẻ lang thang, bụi đời. Thầy cho tôi vào lớp. Rồi thầy dạy tiếng Anh cho chúng tôi bằng cách mang cây đàn ghi-ta gỗ ra và thầy hát những bài hát tiếng Anh đơn giản. Thầy rất nghèo, nhưng thầy không bao giờ lấy tiền của học trò.
Phát hiện ra tôi có năng khiếu học ngoại ngữ, thầy đến nhà nói với bố mẹ tôi cho tôi đi học. Bố mẹ tôi lúc đầu thậm chí còn tỏ ra nghi ngờ lòng tốt của thầy, nhưng sau đó thì đồng ý cho tôi đến lớp học.