Chương 1: Cơ sở lý luận về dân chủ ở cơ sở và thực hiện dân chủ ở cơ sở. Chương 2: Thực trạng thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định hiện nay. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định hiện nay. 11 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ VÀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 1.
Quan niệm về dân chủ, dân chủ ở cơ sở và thực hiện dân chủ ở cơ sở 1. Quan niệm về dân chủ, dân chủ ở cơ sở 1. Quan niệm về dân chủ Quan niệm của thời kỳ trƣớc Mác về dân chủ Cho đến nay, khái niêm dân chủ đƣợc đề cập rất nhiều và đi sâu nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu khoa học. Trong đề tài này, tác giả chỉ đƣa ra một số quan điểm về dân chủ mang tính khái quát nhất.
Dân chủ với tính cách là một phạm trù khoa học, một khái niệm chính trị đƣợc nảy sinh và hình thành trong quan hệ với áp bức, chuyên chế, với những hiện tƣợng độc tài, độc đoán, chuyên quyền. Là khái niệm mang tính lịch sử, nên dân chủ không xuất hiện tức khắc và cũng không tồn tại bất biến. Nó đƣợc phát triển trong tiến trình lịch sử nhân loại và trong quá trình đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa các mặt đối lập: giữa tƣ tƣởng tự do và nô lệ, giữa dân chủ và chuyên chế, độc tài. Xét về mặt lịch sử, thuật ngữ dân chủ ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII - VI trƣớc Công nguyên.
Theo nhà triết học Hy Lạp cổ đại Arixtot (384 - 322 trƣớc Công nguyên) thì Solon (khoảng 638 - 559 trƣớc Công nguyên) là ngƣời đầu tiên đặt nền tảng cho nguyên lý dân chủ. Solon cho rằng, muốn xây dựng một nhà nƣớc trên cơ sở một nền dân chủ phải thông qua tuyển cử và hòa nhập sức mạnh với pháp luật. Hiểu theo từ nguyên, dân chủ có nguồn gốc từ tiếng Demokratia. Trong tiếng Hy Lạp cổ, Demokratia là một từ ghép: “Demo” (Nhân dân) với từ “kratria” (cai trị).
Nếu dịch sát nghĩa thì Demokratia sẽ là một mệnh đề hoàn chỉnh: “Nhân dân cai trị”. Theo nghĩa này, nó đƣợc thể hiện đối lập với chế 12 độ bóc lột, độc tài. Theo đình nghĩa trên, có thể hiểu đƣợc dân chủ là quyền lực của ngƣời bình dân, là sự cai trị họ. Nhân dân là chủ thể và sử dụng quyền lực, trong đó quan trọng nhất là quyền lực chính trị để tổ chức, quản lý xã hội, thực hiện sự nghiệp giải phóng cho con ngƣời và xã hội của mình.
Từ khi ra đời cho đến nay, nội dung khái niệm dân chủ đƣợc chuyển thành nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới. Dân chủ đƣợc xem là sản phẩm của nền văn minh, là điều kiện và tiêu chuẩn của một xã hội tiến bộ, văn minh. Theo nghĩa chung, dân chủ là quyền lực của ngƣời bình dân, quyền làm chủ xã hội, làm chủ bản thân con ngƣời, là quyền làm chủ của nhân dân trong xã hội. Càng ngày, khái niệm dân chủ càng đƣợc mở rộng nhiều hơn về nội dung, mang nhiều nội dung mới mẻ gắn với ý thức chính trị, gắn với chính quyền và bản chất của nhà nƣớc.
Đồng thời nó còn là giá trị mang ý nghĩa nhân văn, đánh dấu những nấc thang tiến bộ của xã hội loài ngƣời. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, ở buổi bình minh của lịch sử nhân loại, trƣớc sức mạnh huyền bí của thiên nhiên hoang sơ, để tồn tại và phát triển, con ngƣời buộc phải gắn bó với nhau thành cộng đồng để tạo nên sức mạnh cộng đồng. Con ngƣời ngay từ buổi đầu ấy đã sử dụng sức mạnh cộng đồng để thực hiện quyền sống, quyền tự do, quyền mƣu cầu hạnh phúc. Và, thế là một hình thức đặc biệt của dân chủ đã xuất hiện mà Ph.
Ăngghen gọi là dân chủ quân sự hay dân chủ nguyên thủy. Cuộc sống cộng đồng đã đặt ra nhu cầu tổ chức và quản lý hoạt động chung. Thông qua Đại hội nhân dân, nhân dân đã bầu ra hội đồng thị tộc và thủ lĩnh quân sự, đồng thời quyết định mọi vấn đề quan trọng của thị tộc, bộ lạc. Trong Đại hội nhân dân, mọi ngƣời đều tự do, bình đẳng, có quyền phát biểu hoặc tham gia quyết định giơ tay hoặc hoan hô.
Trong “nền dân chủ quân sự”, quyền lực của nhân dân là “thiêng liêng và bất khả xâm phạm, đều là một quyền lực tối cao do tự nhiên ban cho, quyền lực mà mỗi ngƣời phải phục tùng một cách vô điều kiện, trong tình cảm, tƣ tƣởng và hành động của mình” [50, tr. Nhà nhân chủng 13 học ngƣời Mỹ đầu thế kỷ XIX, L.Moócgan đã nhận xét: “Toàn thể các thành viên của thị tộc đều là những ngƣời tự do, có nghĩa vụ bảo vệ tự do của nhau, họ đều có những quyền cá nhân ngang nhau, - cả tù trƣởng lẫn thủ lĩnh quân sự đều không đòi hỏi những quyền ƣu tiên nào cả; họ kết thành một tập thể thân ái, gắn bó với nhau bởi những quan hệ dòng máu. Tự do, bình đẳng, bác ái, tuy chƣa bao giờ đƣợc nêu thành công thức, những vẫn là những nguyên tắc cơ bản của thị tộc…” [50, tr. Dân chủ với tƣ cách là chế độ nông nô lần đầu tiên xuất hiện trong chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp, La Mã cổ đại - quyền lực cao nhất, mạnh nhất thuộc về ngƣời dân.
Từ đó đƣa ra hình thức dân chủ, chủ nô, bầu ngƣời đứng đầu nhà nƣớc, phân công trách nhiệm bảo vệ nhà nƣớc Aten. Thực chất giai cấp tƣ hữu đã lập ra Nhà nƣớc và Pháp luật lạm dụng khái niệm dân chủ để chiếm mất quyền lực thực sự của ngƣời dân lao động. Đến thời kỳ chế độ phong kiến là chế độ quân chủ với những giáo lý khắc nghiệt trói buộc cuộc sống của con ngƣời, đã kìm hãm sự phát triển của con ngƣời. Nhà nƣớc phong kiến độc đoán, chuyên quyền cùng với thế lực thần quyền đã hà hiếp ngƣời dân, ngƣời dân mất hết quyền lực.
Thời kỳ này là bƣớc lùi trong thực hiện quyền dân chủ của nhân dân lao động. Nó không khắc phục đƣợc tình trạng mất dân chủ ở giai đoạn trƣớc mà còn làm cho tình trạng ấy trầm trọng hơn, khiến cho quyền lực bị thâu tóm vào tay chỉ một cá nhân là vua. Sự vận động và phát triển của dân chủ là một tất yếu khách quan, dù cho giai cấp thống trị có tìm mọi cách để kìm hãm sự phát triển của dân chủ, bảo vệ lợi ích của mình thì cũng không cản đƣợc bƣớc phát triển của dân chủ. Vào thế kỷ XVII, chủ nghĩa tƣ bản ra đời lần lƣợt ở một số nƣớc Châu Âu, giai cấp tƣ sản đã thiết lập nền dân chủ tƣ sản, trong xã hội tƣ bản chủ nghĩa, các học giả tƣ sản đã luôn quan tâm đến vấn đề dân chủ khi chủ nghĩa tƣ bản phát triển nên chủ nghĩa tƣ bản độc quyền thì dân chủ đó là kiểu dân chủ phục vụ 14 cho lợi ích của giai cấp tƣ sản.
Tuy nhiên, quyền tự do, dân chủ trong chế độ tƣ sản. Theo Mác là tự do lựa chọn những ngƣời thống trị mình chứ không phải là sự lựa chọn những ngƣời đại diện cho lợi ích của bản thân mình. Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ Tiếp cận dân chủ từ góc độ là một hình thức nhà nƣớc, những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: không có dân chủ “thuần túy”, dân chủ siêu giai cấp hay dân chủ cho tất cả các giai cấp; dân chủ mạng tính giai cấp. Khi bàn về vấn đề này, V.Lênin đòi hỏi những ngƣời mácxít không bao giờ đƣợc quên mà không hỏi rằng, đó là dân chủ cho giai cấp nào.
Trong xã hội chia thành những ngƣời bị áp bức và những kẻ áp bức, nghĩa là chia thành giai cấp bị bóc lột và giai cấp bóc lột, thì không bao giờ có đƣợc một chính quyền thực sự của nhân dân. Trong xã hội tƣ sản, dân chủ là một trong những hình thức thống trị giai cấp của giai cấp tƣ sản. Trong một thời gian nhất định nào đó, giai cấp tƣ sản có quan tâm đến vấn đề dân chủ về phƣơng diện nó là một công cụ thống trị chính trị của giai cấp đó. Giai cấp tƣ sản thảo ra hiến pháp, thành lập Nghị viện và các cơ quan đại diện khác, ban hành (do áp lực của quần chúng) quyền phổ thông đầu phiếu và những quyền tự do chính trị có tính chất hình thức.
Tuy nhiên, chúng lại dùng đủ mọi thủ đoạn để ngăn cản không cho đông đảo quần chúng đƣợc hƣởng quyền lợi và đƣợc sử dụng đầy đủ các cơ quan đó, chúng đã chú ý xây dựng bộ máy dân chủ của chế độ cộng hòa tƣ sản sao cho có thể làm tê liệt hoạt động chính trị của quần chúng và gạt đƣợc những ngƣời lao động ra khỏi sinh hoạt chính trị. Việc nhấn mạnh tính giai cấp của dân chủ nói chung, của dân chủ tƣ sản nói riêng đã đƣa V.Lênin tới quan niệm về sự cần thiết phải kết hợp giữa đấu tranh cho dân chủ với đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội: Một là, giai cấp vô sản không thể hoàn thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, nếu họ không đƣợc chuẩn bị để tiến tới cuộc cách mạng đó thông qua cuộc đấu tranh cho chế độ dân chủ. 15 Hai là, chủ nghĩa xã hội sẽ không duy trì đƣợc thắng lợi, nếu không thực hiện đầy đủ chế độ dân chủ. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ đƣợc xây dựng và hình thành trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa, mang bản chất của giai cấp công nhân, dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản để đảm bảo thực hiện và đảm bảo quyền làm chủ thực sự của đông đảo quần chúng Nhân dân với xã hội.
Cùng ở trình độ hiện đại trong lịch sử hình thành và phát triển của dân chủ, nhƣng dân chủ xã hội chủ nghĩa khác về bản chất và nguyên tắc so với dân chủ tƣ sản. Sự khác biệt này đƣợc thể hiện ở những điểm sau: Một là, dân chủ tƣ sản chỉ phục vụ lợi ích của một tiểu số nắm quyền lực kinh tế và chính trị trong xã hội tƣ sản.