CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ THANH TOÁN THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương này tác giả sẽ trình bày sơ sở lý luận về thẻ và dịch vụ thẻ thanh toán như hoàn cảnh ra đời của thẻ thanh toán, các phân loại thẻ thanh toán và rủi ro khi dụng thẻ thanh toán. và phân tích lý do thẻ trở thành phương tiện thanh toán thứ yếu của nền kinh tế thông qua những tác động tích cực, đa chiều. Cuối cùng, tác giả trình bày các chỉ tiêu được sử dụng trong bài để đánh giá hiệu quả kinh doanh của dịch vụ thanh toán thẻ tại Vietinbank - chi nhánh tây ninh. TỔNG QUAN VỀ THẺ THANH TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Lịch sử ra đời của thẻ thanh toán Trong thời kỳ cổ đại, con người sử dụng đồ vật mà họ làm ra để đổi lấy sản phẩm mà họ cần. Lâu dần, họ nhận thấy cần phải có một phương thức giao dịch ổn định hơn, công bằng hơn nên nhiều nền văn hóa trên thế giới đã sử dụng tiền kim loại để trao đổi, mua bán. Sau đó là sự xuất hiện của tiền giấy tại Trung Quốc, giấy bạc tại Thụy Điển. Một thời gian sau các ngân hàng buôn bán vàng, bạc phát hành thêm giấy biên nhận để quy đổi sang tiền mặt.
Mãi khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, hầu hết các quốc gia đã thông qua tiền pháp định là phương tiện trao đổi hợp pháp. Đến năm 1971, Chính phủ Mỹ đã ban hành sắc lệnh chấm dứt việc chuyển đổi đồng đôla thành vàng, sau đó nhiều quốc gia đã thực thi theo. (Bảo Duy, 2017) Năm 1946, chiếc thẻ ngân hàng đầu tiên ra đời và được đặt tên là “Charge-It”, cha đẻ của chiếc thẻ này là John Biggins - chủ của một ngân hàng tại thành phố New York. Hoạt động của chiếc thẻ Charge-It cũng khá đơn giản: sau khi mua sắm, KH chỉ cần gửi hóa đơn đến ngân hàng của Biggins, ngân hàng sẽ thực hiện thanh toán cho người bán và KH sẽ trả tiền cho ngân hàng.
Nhưng sau đó người ta đã phát hiện ra điểm bất cập của chiếc thẻ Charge-It, đó là chỉ có thể sử dụng trong phạm vi mà ngân hàng Biggins quản lý và chỉ dành riêng cho KH của ngân hàng. Vào những năm 1970, Công ty dịch vụ BankAmericard của ngân hàng Bank of America đã phát hành 15 thẻ tín dụng độc lập VISA và 5 năm sau đó tấm thẻ ghi nợ (debit) đầu tiên ra đời. (Bảo Duy, 2017) Lịch sự ra đời của những chiếc thẻ thanh toán trên thế giới là thế, còn đối với Việt Nam ta, chiếc thẻ nội địa đầu tiên được triển khai là từ ngân hàng Vietcombank vào năm 1993 nhưng quy mô sử dụng không được rộng rãi. Đến năm 2002, Vietcombank mới chính thức ra mắt thẻ ghi nợ nội địa trước công chúng.
Từ đó, các giao dịch gửi tiền, rút tiền, thanh toán giữa cá nhân và ngân hàng trở nên đơn giản hơn. Đây cũng chính là những viên gạch nền móng cho sự hình thành và phát triển mạng lưới máy rút tiền tự động (ATM) tại nước ta (Bảo Duy, 2017) “Năm 2006, Chính phủ đã triển khai Đề án thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) trong giai đoạn 5 năm 2006-2011 thông qua Quyết định số 291/2006/TTg”, từ đây hoạt động thanh toán thẻ đã thực sự có những bước chuyển rõ rệt. Thêm vào đó là quyết định số 20/2007/NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước (NHNN) Việt Nam về những quy định phát hành, cung cấp và sử dụng hoạt động thẻ ngân hàng đã giúp cho hành lang pháp lý trong hoạt động thẻ của ngân hàng được củng cố. Nhờ đó mà hệ thống ngân hàng có sự phát triển vượt bậc về số lượng thẻ, tạo điều kiện để hàng loạt các sản phẩm thẻ hiện đại ra đời (Hiệp hội ngân hàng Việt Nam, 2016).
Các khái niệm liên quan đến thẻ thanh toán 1. Khái niệm thẻ thanh toán Thẻ thanh toán là một loại thẻ thực hiện các chức năng chi trả, thanh toán khi KH sử dụng để mua sắm hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trừ máy rút tiền tự động hoặc rút trực tiếp tại Ngân hàng. Khái niệm dịch vụ thanh toán thẻ Dịch vụ thanh toán thẻ là một loại hình dịch vụ thuộc nhóm các dịch vụ bán lẻ của NHTM. Ngân hàng cung cấp cho KH một công cụ thanh toán – thẻ thanh toán để sử dụng các tiện ích, tính năng thông qua dịch vụ thanh toán do ngân hàng đó cung cấp để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu, mua sắm.
Khái niệm về hiệu quả thanh toán thẻ Hiệu quả thanh toán thẻ là một trong những mục tiêu cốt lõi đối với hoạt động thanh toán thẻ của NHTM. Theo đó, ngân hàng phải tối đa hóa doanh thu từ hoạt động thanh toán thẻ đồng thời tối thiểu hóa được chi phí liên quan đến dịch vụ thẻ thanh toán nhưng không làm ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng thẻ thanh toán của người dân. Phân loại thẻ thanh toán Ngày càng có nhiều loại thẻ thanh toán ra đời nhằm phục vụ cho nhu cầu mua sắm, sử dụng dịch vụ không dùng tiền mặt của KH. Đồng thời trong bối cảnh các ngân hàng thương mại (NHTM) đang có sự cạnh tranh gay gắt, điều đó đòi hỏi các ngân hàng phải thiết kế nhiều loại thẻ mang đậm dấu ấn của ngân hàng cũng như cung cấp những tính năng chuyên biệt.
Có nhiều cách để phân loại thẻ thanh toán trong hệ thống NHTM, có thể phân loại thẻ thanh toán qua 3 tiêu chí cơ bản sau (Nguyễn Lê Nhật Anh, 2018): 1. Phân loại theo công nghệ sản xuất thẻ • Thẻ khắc chữ nổi - Embossing card: đây là loại thẻ sơ khai nhất của thẻ thanh toán. Hầu hết các thông tin cơ bản của KH đều được khắc nổi trên bề mặt thẻ, chính vì thế mà khả năng bảo mật thông tin của loại thẻ này khá kém. • Thẻ băng từ - Magnetic Stripe: ứng dụng kỹ thuật thư tín trên 2 băng từ chứa thông tin ở mặt sau thẻ.
Tuy nhiên, công nghệ sản xuất này đến nay đã trở nên lạc hậu, các thông tin không được mã hóa nên có thể đọc được dễ dàng. • Thẻ thông minh - Smart Card: khắc phục nhược điểm của thẻ băng từ là tính bảo mật thông tin cao. Hơn nữa, Smart Card hỗ trợ nhiều nhu cầu của KH hơn như gọi điện thoại công cộng, trả phí cầu đường, thanh toán hóa đơn xăng dầu… Nhược điểm duy nhất của loại thẻ này là chi phí sản xuất cao do ứng dụng công nghệ hiện đại. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ • Thẻ nội địa: chỉ có thể giao dịch trong phạm vi một quốc gia và đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ của nước đó.
• Thẻ quốc tế: có thể giao dịch, thanh toán tại các quốc gia ngoài lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay, các thương hiệu thẻ quốc tế được các NHTM Việt Nam chấp nhận là Visa, MasterCard, JCB, American Express, UP. Phân loại theo tính chất thanh toán • Thẻ ghi nợ - Debit card: là loại thẻ gắn liền với tài khoản thanh toán của KH. Mỗi một giao dịch sẽ được khấu trừ vào bên nợ của tài khoản thẻ.
• Thẻ ký quỹ/thẻ trả trước - Prepaid Card: để sử dụng được loại thẻ này, KH phải lưu ký tiền vào tài khoản riêng tại ngân hàng và chỉ có thể giao dịch trong phạm vi số tiền đã lưu ký đó. Điểm khác biệt giữa thẻ ký quỹ và thẻ ghi nợ là người sử dụng không bắt buộc phải có tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng phát hàng, cũng không cần chứng minh khả năng tài chính. • Thẻ tín dụng - Credit card: được phát hành khi ngân hàng chấp nhận cung cấp dịch vụ tín dụng và hạn mức nhất định cho chủ thẻ. Như vậy, KH không cần phải có tiền trong tài khoản nhưng vẫn có thể mua sắm, rút tiền mặt tại các máy ATM nhưng chỉ được sử dụng trong hạn mức đã thỏa thuận.
KH được thanh toán số chi tiêu phát sinh chậm trong vòng 45 ngày (gồm 30 ngày chu kỳ thanh toán và 15 ngày gia hạn thanh toán). Nếu KH thanh toán đủ số dư nợ đúng hạn thì không phải chịu lãi trên số tiền đã sử dụng. Nếu KH chỉ thanh toán bằng mức tối thiểu ngân hàng yêu cầu thì thì phần dư nợ sẽ được chuyển vào kỳ sau và phát sinh lãi. Trường hợp KH không đồng ý thanh toán thì sẽ chịu phạt quá hạn số tiền bằng mức tối thiểu quy định và chịu lãi cho phần dư nợ còn lại.
Các bên tham gia trong hoạt động thanh toán thẻ Quy trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ có sự tham gia của 5 thành phần kinh tế cơ bản: tổ chức thẻ quốc tế (TCTQT), ngân hàng phát hành ( NHPH), ngân 18 hàng thanh toán thẻ, chủ thẻ và đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT). Dịch vụ thanh toán thẻ của NHTM phát triển là nhờ sự đóng góp, phối hợp giữa các chủ thể này. Tổ chức thẻ quốc tế Theo quy định tại Điều 1 Thông tư 28/2019/TT-NHNN (2020): “TCTQT là tổ chức được thành lập, hoạt động ở nước ngoài theo quy định của pháp luật nước ngoài, có thỏa thuận với các TCPHT, tổ chức thanh toán thẻ, tổ chức chuyển mạch thẻ và/hoặc các bên liên quan để hợp tác về hoạt động thẻ ngân hàng đối với thẻ có mã TCPHT do TCTQT cấp hoặc thẻ có mã tổ chức phát hành thẻ (TCPHT) của quốc gia khác, phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và cam kết quốc tế.” Những TCTQT phổ biến hiện nay như: tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ Mastercard, công ty thẻ American Express, công ty thẻ JCB…Nhằm cân đối lượng tiền giữa các công ty thành viên, TCTQT soạn thảo những quy định cơ bản về phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ. Ngân hàng phát hành Được tổ chức thẻ trao quyền phát hành thẻ có mang thương hiệu của những tổ chức và công ty thẻ.
NHPH sẽ ban hành những quy định, điều khoản sử dụng thẻ cũng như quyền lợi của KH. Ngân hàng nào phát hành thẻ thì được in tên của ngân hàng đó lên sản phẩm thẻ của mình. Chủ thẻ Chủ thẻ là người có tên được in nổi trên thẻ, có quyền sử dụng thẻ theo những điều khoản do NHPH đề ra. Chủ thẻ được quyền sử dụng thẻ của mình hoặc ủy quyền cho người khác sử dụng thẻ của mình để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại những ĐVCNT, rút tiền/chuyển tiền tại các NHTM.
Theo quy định thì mỗi chủ thẻ chính có thể phát hành thêm một thẻ phụ. Cả 2 chủ thẻ có thể cùng chi tiêu trên một tài khoản.