Phần mở đầu, 3 chƣơng (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục : Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về đói, nghèo và tham gia xóa đói, giảm nghèo trong bảo đảm an ninh phi truyền thống. Chƣơng 2 : Thực trạng bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lào Cai tham gia xóa đói, giảm nghèo trong bảo đảm an ninh phi truyền thống. Chƣơng 3 : Yêu cầu và một số giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả công tác tham gia xóa đói, giảm nghèo của bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay 8 (LUAN.cai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.cai CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI, NGHÈO VÀ THAM GIA XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TRONG BẢO ĐẢM AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG 1. Khái niệm về đói, nghèo, xóa đói, giảm nghèo * Khái niệm về đói, nghèo và xóa đói, giảm nghèo: Khái niệm về đói, nghèo Đói, nghèo đƣợc Liên hợp quốc xác định từ năm 1994, là một hiện tƣợng tồn tại phổ biến ở nhiều quốc gia, có nội hàm rộng, luôn thay đổi theo tiêu chí chung của mỗi nhà nƣớc.
Hiện nay, nhiều nhà khoa học và quản lý đã đƣa ra nhiều khái niệm khác nhau. Căn cứ vào tình hình chung kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong chiến lƣợc toàn diện về tăng trƣởng và XĐ, GN đến năm 2020, Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993 các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: "Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương" [39, tr. Khái niệm trên có nội hàm tƣơng đối đầy đủ, đƣợc nhiều tổ chức quốc tế sử dụng, trong đó có Việt Nam. Để đánh giá đúng mức độ nghèo, ngƣời ta chia nghèo thành hai loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối.
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục. Chuẩn nghèo tuyệt đối của thế giới do WB xác định là 1 USD và 2 USD mỗi ngày mỗi ngƣời tính theo ngang giá sức mua (PPP) năm 1993 đƣợc dùng cho các nền kinh tế có mức thu nhập trung bình nhƣ Đông Á và Mỹ Latinh. Ngƣỡng 1 USD/ngày/ngƣời, thƣờng đƣợc sử dụng cho các nƣớc kém phát triển, chủ yếu là châu Phi.cai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.cai Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới mức trung bình của cộng đồng tại địa phƣơng, ở một thời kỳ nhất định. Chuẩn nghèo tƣơng đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác nhau cho một xã hội.
Trên cơ sở những khái niệm chung của quốc tế đƣa ra và xuất phát từ thực tiễn về cách tiệp cận đói, nghèo ở nƣớc ta, khái niệm nghèo đói, ở Việt Nam còn có một số khái niệm nhƣ: Đói là tình trạng của một bộ phận dân cƣ nghèo có mức sống dƣới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cƣ hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thƣờng vay mƣợn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cộng đồng; Hộ đói là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không đƣợc học hành đẩy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà ở tạm bợ, rách nát.; Hộ nghèo là hộ đói ăn không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất. Xã nghèo là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu nhƣ điện, đƣờng, trƣờng, trạm, nƣớc sạch. trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao; Vùng nghèo: Là địa bàn tƣơng đối rộng nằm ở những khu vực khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao.
Đói, nghèo là một hiện tƣợng kinh tế - xã hội, do lịch sử để lại, đồng thời là vấn đề chung của mỗi quốc giai. Do vậy, để giải quyết XĐ, GN chúng ta cần phải xác định đúng những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới đói nghèo. Có thể khái quát những nguyên nhân chính gây ra nghèo đói ở nƣớc ta trong thời gian qua nhƣ: Nguyên nhân do nguồn lực hạn chế; nguyên nhân do khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lũ, hạn hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp và hậu quả của chiến tranh; nguyên nhân chủ quan thuộc về ngƣời nghèo nhƣ mặt bằng dân trí thấp, không đƣợc tiếp cận về giáo dục, thiếu kiến thức sản xuất, không có việc làm, đông con, thiếu lao động, mắc tệ nạn xã hội, lƣời lao động, tập quán lạc hậu, tâm lý trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nƣớc.; nguyên nhân thuộc về cơ chế, chính sách nhƣ chủ trƣơng, chính sách còn thiếu, không đồng bộ, nhất quán; quản trị các nguồn lực yếu kém hoặc việc thực hiện các chủ trƣơng chính sách còn yếu kém, dàn trải. Đây là nguyên nhân có ảnh hƣởng khá mạnh mẽ đến tình trạng nghèo của cả nƣớc nói chung, của các địa phƣơng nói riêng.
Nhƣ vậy, đói nghèo có nguồn gốc căn 10 (LUAN.cai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.cai nguyên cơ bản từ kinh tế; nhƣng với tƣ cách là hiện tƣợng tồn tại phổ biến ở các quốc gia trong tiến trình phát triển, đói nghèo thực chất là hiện tƣợng kinh tế - xã hội phức tạp. Từ sự phân tích trên, khi nghiên cứu những tác động ảnh hƣởng đến thực trạng, xu hƣớng, cách thức giải quyết vấn đề đói nghèo cần phải đánh giá tổng hợp những tác động của các nhân tố chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Từ đó mới đề ra đƣợc các giải pháp có tính chất đồng bộ cho công tác XĐ, GN ở nƣớc ta, nhất là ở vùng đặc biệt khó khăn, miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc ít ngƣời. Khái niệm về xóa đói, giảm nghèo: Với lập luận đã đƣợc phân tích, do có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nguồn gốc dẫn đến đói, nghèo nên trong khoa học và thực tiễn cũng xuất hiện nhiều khái niệm khác nhau.
XĐ, GN là nhiệm vụ của mọi nhà nƣớc, quốc gia, kể cả ở các nƣớc tƣ bản phát triển. Và đói, nghèo có quan hệ mật thiết với nhau, do đó XĐ, GN cũng có quan hệ với nhau, nói đến giảm nghèo đã bao hàm xoá đói. Từ cách tiếp cận nhƣ trên thì: xóa đói, giảm nghèo là quá trình trước mắt, lâu dài, kiên trì của Nhà nước, cộng đồng xã hội hỗ trợ, tạo điều kiện thuận tiện cho các đối tượng đói, nghèo vươn lên trong sản xuất, cuộc sống từ đó mà thoát khỏi đói, nghèo. Nói một cách khác, XĐ, GN chính là quá trình chuyển một bộ phận dân cư đói, nghèo lên một mức sống cao hơn.
Xoá đói và giảm nghèo có nội hàm không giống nhau. Xoá đói, là làm cho bộ phận dân cƣ đói nâng cao thu nhập, nâng cao mức sống từ đó mà vƣợt qua tiêu chí đói. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lƣợng ngƣời đói giảm xuống bằng không (xóa sạch) trong một khoảng thời gian xác định. Còn giảm nghèo, là làm cho bộ phận dân cƣ nghèo nâng cao thu nhập, nâng cao mức sống, từng bƣớc thoát khỏi tình trạng nghèo.
Nó đƣợc biểu hiện số lƣợng ngƣời nghèo giảm xuống theo thời gian. Đối với nghèo, trong điều kiện hiện nay chúng ta không thể xoá hết đƣợc mà chỉ có thể từng bƣớc giảm nghèo do khái niệm nghèo gồm cả nghèo tƣơng đối và nghèo tuyệt đối; đối tƣợng giảm nghèo không chỉ là cá nhân, hộ mà còn bao gồm cả địa phƣơng nghèo, vùng nghèo, xã nghèo.cai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.cai Mục đích của xóa đói, giảm nghèo: Mục đích của XĐ, GN là hƣớng tới các đối tƣợng, hộ thuộc diện nghèo đói ở nƣớc ta vƣơn lên thoát nghèo, từng bƣớc bảo đảm tiến tới nâng cao cuộc sống; là thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo trong xã hội, nhằm mục tiêu chung xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đất nƣớc phồn vinh. Trên tinh thần nhƣ vậy, công tác XĐ, GN phải đƣợc quán triệt và thực hiện trên cơ sở kế hoạch hoá bằng các chƣơng trình dự án cụ thể của các lực lƣợng trong toàn xã hội. Trên bình diện tổng thể XĐ, GN có những mục đích chính bao gồm: Tái tạo tiềm năng nhân lực là đối tƣợng thuộc chính XĐ, GN; đồng đều phát triển tất cả các nguồn lực; góp phần vào sự nghiệp xây dựng vững chắc xã hội không còn đói nghèo, nhất là ở các vùng có khó khăn, những vùng sâu, vùng xa và những cá nhân gặp điều kiện đặc biệt khó khăn; xây dựng môi trƣờng thuận lợi cho một bộ phận dân cƣ có nhiều điều kiện hoà nhập với xã hội, có khả năng tiêu thụ những sản phẩm vật chất và tinh thần một cách đúng đắn, tiết kiệm; xây dựng đƣợc một mô hình theo lối sống xã hội chủ nghĩa với những đặc điểm chủ yếu là sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân với sự phát triển của cộng đồng trên cơ sở kế thừa giá trị truyền thống, bền vững.
Do mặt bằng chung của nền kinh tế, ở một số vùng, nhất là khu vực miền núi, khu vực giáp biên, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngoài gặp những khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần thiếu thốn còn gặp phải các tệ nạn phức tạp của xã hội nhƣ ma túy, cờ bạc, mua bán ngƣời cũng nhƣ sự tuyên truyền lôi kéo của các thế lực thù địch. Những tệ nạn này đi với đói nghèo thƣờng xuyên sẽ dẫn đến sự mất ổn định chính trị xã hội. Tuy thời gian qua Nhà nƣớc cùng địa phƣơng đã xây dựng một số chƣơng trình, dự án đƣợc triển khai ở các khu vực này, nhƣng về cơ bản chƣa đáp ứng đƣợc thực tiễn đặt ra. Do đó cần tiếp tục có những chính sách mới, có tính bƣớc ngoặt về chƣơng trình phát triển kinh tế và XĐ, GN cho đồng bào, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, ổn định tình hình an ninh chính trị xã hội, trật tự an toàn xã hội, gây niềm tin của đồng bào với chế độ, với Đảng, với Nhà nƣớc.cai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.