Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động tài chính tại các doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng về hiệu quả hoạt động tài chính tại Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính tại Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP 1. Hiệu quả tài chính tại các Doanh nghiệp phát triển cơ sở hạ tầng 1. Khái niệm ánh giá t nh h nh tài h nh o nh nghiệp Đánh giá tình hình tài chính Công ty là tổng thể các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, dự đoán tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp, giúp cho các nhà quản lý đưa ra các quyết định quản lý hữu hiệu, phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm. Mục tiêu củ ánh giá t nh hinh tài h nh o nh nghiệp Mục tiêu của đánh giá tình hình TCCông ty đối với mỗi đối tượng khác nhau sẽ khác nhau.
Cụ thể: - Đối với các nhà quản lý Công ty: cần thông tin về đánh giá tình hình TC của Công ty để kiểm soát và chỉ đạo tình hình SXKD của Công ty, có định hướng các quyết định về đầu tư, cơ cấu nguồn tài chính, phân chia lợi nhuận, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh để có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và dự báo các nguy cơ rủi ro, đặc biệt là dấu hiệu rủi ro tài chính trong Công ty, từ đó đưa ra các dự báo và kế hoạch tài chính cùng các quyết định tài chính thích hợp, dễ dàng trong việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lý trong Công ty. - Đối với nhà đầu tư: cần thông tin về đánh giá tình hình TC của Công ty để làm rõ triển vọng phát triển của Công ty, ước đoán giá trị cổ phiếu trên thị trường TC để đưa ra quyết định đầu tư chính xác đem lại lợi nhuận cao trong tương lai. - Đối với người cho vay: đối với những khoản cho vay ngắn hạn thì người cho vay quan tâm đếm khả năng thanh toán ngay của Công ty (còn gọi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 là khả năng ứng phó của Công ty khi nợ vay đến hạn trả); đối với các khoản cho vay dài hạn thì người cho vay quan tâm đến mức sinh lời của vốn vay, vốn đầu tư và các yếu tố gây ra rủi ro về thanh toán, rủi ro tài chính trong dài hạn để xác định khả năng hoàn trả vốn và lãi và ra quyết định cho vay. Đối với những người hưởng lương trong Công ty: lợi ích của nhóm người này là thu nhập và cơ hội thăng tiến mà Công ty dành cho họ, do vậy đánh giá tình hình tài chính giúp họ định hướng được việc làm và đầu tư tài chính cho tương lai.
- Đối với các cơ quan quản lý chức năng nhà nước: Các cơ quan quản lý nhà nước (cơ quan Thuế, cơ quan thanh tra tài chính, Thống Kê…) sử dụng kết quả của đánh giá tình hình TCCông ty nhằm kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động kinh doanh của các Công ty trong nền kinh tế, từ đó đề ra các chính sách, cơ chế quản lý và các giải pháp tài chính phù hợp với tình hình thực tế của Công ty, tạo môi trường hành lang pháp lý thuận lợi, góp phần giúp các Công ty nâng cao hiệu quả SXKD. Như vậy, đánh giá tình hình TC của Công ty là công cụ quản lý hữu ích giúp cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý, làm căn cứ để đưa ra các quyết định quản lý hữu ích nhằm bảo toàn và gia tăng lợi ích của mình tại Công ty. Hiệu quả tài chính tại các Doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, vật lực, tài lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình SXKD với tổng chi phí thấp nhất. Không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ nền sản xuất nào nói chung và là mối quan tâm của doanh nghiệp nói riêng, đặc biệt nó đang là vấn đề cấp bách mang tính thời sự đối với các doanh nghiệp nhà nước Việt nam hiện nay.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vừa là câu hỏi, vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp hiện nay. Sản xuất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệp SXKD nào cũng có thể hiển thị bằng hàm số thể hiện mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với vốn và lao động. Q = f (K, L) Trong ó: K: là vốn. L: là lao động.
Vì vậy, kết quả SXKD của các doanh nghiệp có quan hệ hàm với các yếu tố tài nguyên, vốn, công nghệ. Xét trong tầm vi mô, với một doanh nghiệp trong ngắn hạn thì các nguồn lực đầu vào này bị giới hạn. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm biện pháp nhằm khai thác và sử dụng vốn, sử dụng tối đa các nguồn lực sẵn có của mình, trên cơ sở đó so sánh và lựa chọn phương án SXKD tốt nhất cho doanh nghiệp mình. Vậy hiệu quả sử dụng vốn là gì ? Để hiểu được ta phải hiểu được hiệu quả là gì? - Hiệu quả của bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng đều thể hiện mối quan hệ giữa “kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra”.
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả ầu r / Chi ph ầu vào Qua công thức trên ta thấy, hiệu quả kinh tế chịu ảnh hưởng của hai nhân tố đó là: Kết quả đầu ra và chi phí đầu vào. Hiệu qủa tăng lên khi: + Kết quả đầu ra tăng lên và chi phí đầu vào không đổi + Hoặc kết quả đầu ra không đổi và chi phí đầu vào giảm xuống + Hoặc kết quả đầu ra và chi phí đầu vào đều tăng nhưng tốc độ tăng của kết quả lớn hơn tốc độ tăng của chi phí. Kết quả đầu ra được xác định trên 3 chỉ tiêu: + Chỉ tiêu lợi nhuận ròng: là chỉ tiêu quan trọng nhất, nó là chỉ tiêu chất lượng thể hiện rõ nhất tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này phản ánh một phần các chỉ tiêu khác như doanh thu và thu nhập.
Thông LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 thường khi chỉ tiêu này tăng lên thì các chỉ tiêu khác cũng được thực hiện tương đối tốt. + Chỉ tiêu doanh thu: Mang tính chất của chỉ tiêu khối lượng, phản ánh quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi xem xét chỉ tiêu này phải luôn có sự so sánh nó với các chỉ tiêu khác, đặc biệt là chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp mới có thể nhận xét, đánh giá được chỉ tiêu doanh thu là tích cực hay là hạn chế. + Chỉ tiêu thu nhập: Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ thu nhập của doanh nghiệp đạt được.
Từ 3 chỉ tiêu trên ta thấy, doanh thu thực hiện lớn cũng chưa phản ánh đầy đủ hoạt động kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, nó chỉ phản ánh quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường. Vì vậy, ta phải căn cứ vào lợi nhuận ròng và thu nhập của doanh nghiệp, so sánh chỉ tiêu này với khoản chi phí đầu vào để đánh giá hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng. Chỉ tiêu chi phí đầu vào được xác định dựa trên các chỉ tiêu như: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. - Hiệu quả xã hội: là những tác động tới thực tiễn đời sống xã hội khi doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Về mặt ịnh lượng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã hội biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Người ta chỉ thu được hiệu quả khi kết quả đầu ra lớn hơn chi phí đầu vào. Hiệu quả càng lớn chênh lệch này càng cao. Về mặt ịnh tính: Hiệu quả kinh tế cao biểu hiện sự cố gắng nỗ lực, trình độ quản lý của mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống công nghiệp, sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị - xã hội.
Có rất nhiều cách phân loại hiệu quả kinh tế khác nhau, nhưng đề tài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 chỉ đề cập đến vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp. Như vậy, ta có thể hiểu hiệu quả sử dụng vốn như sau: Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp: là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời tối đa với chi phí thấp nhất. Hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề phức tạp có liên quan tới tất cả các yếu tố của quá trình SXKD (ĐTLĐ, TLLĐ) cho nên doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả trên cơ sở sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả. Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình kinh doanh thì doanh nghiệp phải giải quyết được các vấn đề như: đảm bảo tiết kiệm, huy động thêm để mở rộng hoạt động SXKD của mình và doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu đề ra trong qúa trình sử dụng vốn của mình.
Tóm lại, đối với các quốc gia đặc biệt là các nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam thì chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cũng như chỉ tiêu hiệu quả xã hội đều quan trọng và cần thiết. Trong một số trường hợp thì hiệu quả kinh tế tăng trưởng sẽ kéo theo tăng trưởng hiệu quả xã hội. Tuy nhiên, điều này không phải luôn luôn đúng vì nền kinh tế thị trường luôn kèm theo nhiều khuyết tật. Với quan điểm đó, mỗi doanh nghiệp cần phải đạt được hiệu quả kinh tế trên cơ sở hiệu quả xã hội, từ đó có tác động qua lại, kích thích làm tăng hiệu quả kinh tế.