CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về vốn trong các doanh nghiệp 1. Khái niệm về vốn Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Vốn là khái niệm được xuất phát từ tên tiếng Anh là “capital” có nghĩa là “tư bản”.
Tuy nhiên, khi nói về vốn, trên thực tế còn tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về vốn và theo sự phát triển của lịch sử, các quan điểm về vốn ngày càng hoàn thiện hơn. Tiêu biểu có các cách hiểu về vốn của một số nhà kinh tế học thuộc các trường phái khác kinh tế khác nhau như sau: Theo quan điểm của Karl Marx, vốn được khái quát hoá thành phạm trù tư bản. Ông cho rằng vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản xuất. Đây là định nghĩa có tầm khái quát lớn vì bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò của vốn.
Bản chất của vốn là giá trị cho dù nó được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tài sản cố định, nhà cửa, nguyên vật liệu, tiền công.Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư vì nó tạo ra sự sinh sôi về giá trị thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển lúc bấy giờ, K. Marx đã bó hẹp khái niệm về vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.Samuelson, nhà kinh tế học theo trường phái Tân cổ điển thì vốn là những hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là một trong ba yếu tố đầu vào của hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp. Đó có thể là máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ.
Trong quan niệm về vốn của ông không đề cập đến các tài sản tài chính, những tài sản có giá có thể đem lại lợi nhuận của doanh nghiệp mà vốn được xem xét ở hình thái hiện vật, là tài sản cố định của doanh nghiệp. Lê Thị Phương Thảo 3 Lớp: TCDN 20.16 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Tuấn Còn trong cuốn “Kinh tế học” của D. Begg, ông đưa ra hai định nghĩa về vốn bao gồm vốn hiện vật và vốn tài chính.
Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá, sản phẩm đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác. Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp. Theo định nghĩa trên, D.Begg đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Các quan điểm về vốn của doanh nghiệp ở trên tuy đã thể hiện được vai trò, tác dụng của vốn trong những điều kiện lịch sử cụ thể phù hợp với yêu cầu, mục đích nghiên cứu nhưng vẫn bị hạn chế bởi sự thống nhất giữa vốn với tài sản của doanh nghiệp.
Thực chất vốn là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ, vốn và tài sản là hai mặt giá trị và hiện vật của một bộ phận nguồn nhân lực sản xuất mà doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, vốn được quan niệm là một yếu tố đầu vào của không chỉ một quá trình sản xuất riêng lẻ mà của cả quá trình sản xuất và tái sản xuất ra liên tục trong suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp. Theo đó vốn là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình tiếp theo, vốn được biểu hiện bằng cả tiền mặt lẫn các giá trị vật tư, hàng hoá tài sản của doanh nghiệp. Theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp của trường Đại học kinh tế quốc dân thì “Trong mọi doanh nghiệp, vốn đều bao gồm hai bộ phận: vốn chủ sở hữu và nợ; mỗi bộ phận này được cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tùy theo tính chất của chúng”.
Và mỗi doanh nghiệp khác nhau sẽ lựa chọn các nguồn vốn khác nhau phù hợp với doanh nghiệp mình. Phân loại vốn Để có thể quản lý và sử dụng vốn một cách có hiệu quả, doanh nghiệp cần phải nắm được các đặc điểm của vốn cũng như phân loại vốn tuỳ theo loại hình doanh nghiệp và đặc điểm cụ thể của doanh nghiệp mình. Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại như theo nguồn hình thành, theo phương thức chu chuyển, theo thời gian huy động và sử dụng vốn. Lê Thị Phương Thảo 4 Lớp: TCDN 20.16 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.
Trần Minh Tuấn a. Căn cứ theo nguồn hình thành vốn Căn cứ theo nguồn hình thành vốn thì vốn của doanh nghiệp bao gồm 2 loại chính là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc về các chủ sở hữu của doanh nghiệp, do chủ sở hữu và các nhà đầu tư đóng góp. Số vốn này không phải là một khoản nợ, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phải trả lãi suất.
Tuy nhiên, lợi nhuận thu được do kinh doanh có lãi của doanh nghiệp sẽ được chia cho các cổ đông theo tỷ lệ cổ phần đóng góp. Vốn chủ sở hữu thường bao gồm các bộ phận như: vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, vốn do phát hành cổ phiếu mới. Nợ phải trả (vốn vay) là phần vốn không thuộc sở hữu của các chủ sở hữu của doanh nghiệp, bao gồm các khoản vốn chiếm dụng và nợ vay mà sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải hoàn trả cho người cho vay cả gốc và lãi. Phần vốn này doanh nghiệp được sử dụng với những điều kiện nhất định như thời gian sử dụng, lãi suất, thế chấp.
nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Vốn vay có hai loại và vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn. Căn cứ theo phương thức chu chuyển vốn Theo phương thức chu chuyển vốn, vốn của doanh nghiệp bao gồm hai loại là vốn cố định và vốn lưu động. Cách thức phân loại này rất quan trọng bởi vì vốn lưu động và vốn cố định có hình thái tồn tại và vai trò khác nhau trong quá trình sản xuất, do đó cần có các cơ chế quản lý khác nhau.
Vốn cố định là phần vốn dùng để đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp. Đây là các tài sản có thời gian sử dụng dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm, thường có giá trị lớn. Vốn cố định biểu hiện dưới hai hình thái, đó là hình thái hiện vật như nhà cửa, máy móc, thiết bị, công cụ,. và hình thái tiền tệ (tài sản cố định chưa khấu hao và vốn khấu hao chưa được sử dụng để sản xuất TSCĐ) Lê Thị Phương Thảo 5 Lớp: TCDN 20.16 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.
Trần Minh Tuấn Vốn lưu động là phần vốn dùng để đầu tư vào tài sản lưu động của doanh nghiệp. Tài sản lưu động là các tài sản có thời gian sử dụng ngắn, thường xuyên luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh và thường có giá trị nhỏ. Tài sản lưu động tồn tại dưới dạng dự trữ sản xuất (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, công cụ, dụng cụ, .), sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (sản phẩm dở dang), thành phẩm, chi phí tiêu thụ, tiền mặt,. trong giai đoạn lưu thông.
Trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp thì tài sản lưu động chủ yếu được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, chứng khoán có thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho. Căn cứ theo thời gian huy động và sử dụng vốn Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn, vốn của doanh nghiệp được chia thành vốn ngắn hạn và vốn dài hạn. Vốn ngắn hạn là vốn có thời hạn dưới 1 năm, là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể dùng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn và các khoản chiếm dụng của khách hàng.
Vốn dài hạn là vốn có thời hạn từ 1 năm trở lên. Đây là nguồn vốn thường xuyên, có tính chất ổn định và dài hạn m à doanh nghiệp có thể sử dụng để đầu tư vào tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn của doanh nghiệp. Vai trò của vốn Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp.
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mọi loại hình doanh nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Nếu thiếu vốn thì quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị ngưng trệ, doanh Lê Thị Phương Thảo 6 Lớp: TCDN 20.16 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS. Trần Minh Tuấn nghiệp không thể mở rộng sản xuất cả về chiều rộng cũng như chiều sâu, không thể đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập cho người lao động.
cũng như tổ chức bộ máy đầy đủ chức năng, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Những vai trò quan trọng này của vốn được thể hiện rõ nét qua các mặt sau: a. Về mặt pháp lý Mỗi doanh nghiệp khi thành lập đều phải có một lượng vốn nhất định và phải lớn hơn hoặc bằng mức vốn pháp định do Nhà nước quy định đối với lĩnh vực kinh doanh đó. Vốn lúc này có vai trò đảm bảo sự hình thành và tồn tại của doanh nghiệp trước pháp luật.
Giá trị vốn ban đầu có thể ít hoặc nhiều tuỳ theo quy mô, ngành nghề, loại hình doanh nghiệp. Vốn pháp định ở Việt Nam quy định cho một số ngành nghề có liên quan đến tài chính như Chứng khoán, Bảo hiểm, Kinh doanh vàng và Kinh doanh tiền tệ,. Đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác mà Nhà nước không quy định giá trị vốn ban đầu tối thiểu thì giá trị vốn khi thành lập có thể dao động từ hàng triệu đến hàng tỷ đồng tuỳ khả năng của người thành lập doanh nghiệp. Như vậy, có thể xem vốn là một trong những cơ sở quan trọng để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp trước pháp luật.