CHƯƠNG 1: VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH 1. VỐN KINH DOANH VÀ NGUỒN VễN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm vốn kinh doanh Phạm trù vốn kinh doanh (VKD) luôn gắn liền với khái niệm doanh nghiệp. Theo điều 4 Luật doanh nghiệp 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản sau: sức lao động, dối tượng lao động và tư liệu lao động. Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Như vậy, VKD của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Đặc trưng của vốn kinh doanh - Thứ nhất: Vốn được biểu hiện bằng một lượng giá trị tài sản thực, có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị những tài sản hữu hình và vô hình như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, bản quyền phát minh sáng chế,… - Thứ hai: Vốn phải vận động sinh lời.
Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để trở thành vốn thì tiền phải được vận động sinh lời. Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm khởi đầu và điểm kết thúc của một vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền tệ với giá trị lớn hơn, tức là kinh doanh có lãi. Điều này đòi hỏi trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp không thể bị ứ đọng vốn.
- Thứ ba: Vốn chỉ được phát huy tác dụng khi được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định. Đặc trưng này đòi hỏi doanh nghiệp cần lập kế hoạch để huy động SV: Nguyễn Tuấn Thành - Lớp CQ46/11.09 4 Luận văn Cuối khoá đủ lượng vốn cần thiết và trong quá trình kinh doanh cần tái đầu tư lợi nhuận để mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh trạnh. - Thứ tư: Vốn kinh doanh gắn liền với chủ sở hữu nhất định, phải được quản lý chặt chẽ nhằm tránh hiện tượng lãng phí, thất thoát. Tuỳ vào hình thức đầu tư mà chủ sở hữu có thể là người sử dụng vốn hoặc không, quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn có thể được gắn với nhau nhưng cũng có khi tách rời nhau.
- Thứ năm: Vốn có giá trị về mặt thời gian, tức là đồng vốn tại các thời điểm khác nhau có giá trị không giống nhau. Do đó huy động và sử dụng vốn kịp thời là điều hết sức quan trọng.Qỳa trình luân chuyển của vốn kinh doanh Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục nên vốn kinh doanh của doanh nghiệp cũng vận động không ngừng tạo ra sự tuần hoàn và chu chuyển của vốn. Sự vận động của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp được mô phỏng theo sơ đồ sau: TLSX T-H. Do sự luân chuyển không ngừng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên cùng một lúc vốn kinh doah của doanh nghiệp thường tồn tại dưới các hình thức khác nhau trong lĩnh vực sản xuất lưu thông.
Tại sao nghiên cứu quá trình luân chuyển VKD lại quan trọng? Sở dĩ như vậy bởi vì nó đưa ra những chỉ dẫn hữu ích cho công tác quản lý VKD. Sơ đồ luân chuyển VKD đưa ra hai chỉ dẫn quan trọng sau: - Thứ nhất, trong một khoảng thời gian nhất định, nếu vốn quay được nhiều vòng hơn thì sẽ tạo ra được nhiều T’ hơn mà không cần tăng vốn. Khi đó, lợi nhuận trong kỳ đó sẽ tăng lên. Đó là lý do tại sao các doanh nghiệp luôn nỗ SV: Nguyễn Tuấn Thành - Lớp CQ46/11.09 5 Luận văn Cuối khoá lực thực hiện nhiều biện pháp để tăng vòng quay vốn và sử dụng các chỉ tiêu vòng quay VKD như một chỉ dẫn quan trọng về hiệu quả sử dụng vốn.
- Thứ hai, nếu một giai đoạn nào đó trong quá trình luân chuyển bị gián đoạn thì sẽ gây ra sự đình trệ hay rối loạn cho sự tuần hoàn VKD. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần dự trữ một lượng tiền mặt và hàng tồn kho nhất định nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra thông suốt. Phân loại vốn kinh doanh Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn, có thể chia vốn kinh doanh thành hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định * Khái niệm vốn cố định Để hình thành các tài sản cố định (TSCĐ) đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng trước một lượng vốn tiền tệ nhất định, lượng vốn tiền tệ này được gọi là vốn cố định (VCĐ) của doanh nghiệp.
Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên TSCĐ, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được TSCĐ về mặt giá trị. * Đặc điểm chu chuyển của VCĐ trong quá trình kinh doanh. VCĐ là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh. Việc tăng thêm VCĐ trong các doanh nghiệp nói riêng và trong các ngành nói chung có tác động lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Vì là số vốn ứng trước ra để mua sắm, xây dựng TSCĐ nên quy mô của VCĐ lớn hay nhỏ sẽ quyết định đến quy mô của, tính đồng bộ của TSCĐ, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, VCĐ thực hiện chu chuyển giá trị của nó. Sự chu chuyển này của VCĐ chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế kỹ thuật của TSCĐ. VCĐ cú cỏc đặc điểm chu chuyển sau: - Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, VCĐ chu chuyển giá trị dần dần từng phần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh doanh.
SV: Nguyễn Tuấn Thành - Lớp CQ46/11.09 6 Luận văn Cuối khoá - VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển. - VCĐ chỉ hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được TSCĐ về mặt giá trị - tức là khi thu hồi đủ tiền khấu hao TSCĐ. Vì trong quá trình hoạt động sản xuất thì TSCĐ sẽ bị hao mòn, giá trị TSCĐ chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm. Theo đú, thỡ VCĐ cũng bị tách ra một phần tính vào chi phí sản xuất tương ứng phần hao mòn đó, phần còn lại sẽ giữ lại trong TSCĐ.
Càng qua nhiều chu kỳ sản xuất sẽ giảm đi và sẽ hết khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng. Xuất phất từ đặc điểm luân chuyển như trên của VCĐ thì việc quản lý VCĐ phải luôn gắn với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là TSCĐ của doanh nghiệp. Vì vậy để quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ, ta cần nghiên cứu rõ hơn về TSCĐ. TSCĐ của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và giá trị của nó được chuyển dịch dần dần, từng phần vào giá trị sản phẩm, dịch vụ được sản xuất ra trong các chu kỳ sản xuất, thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn của TSCĐ.
Đứng trên góc độ tài chính, thì tài sản là TSCĐ phải thoả mãn 2 tiêu chuẩn định lượng sau: + Tiêu chuẩn về thời gian: có thời gian sử dụng từ một năm trở lên + Tiêu chuẩn về giá trị: phải có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành, hiện nay tại nước ta mức giá trị quy dịnh là 10 triệu đồng trở lên. * Phân loại tài sản cố định VCĐ là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ. Do TSCĐ có nhiều loại khác nhau, mỗi loại có những đặc điểm và yêu cầu quản lý khác nhau nên cần phân loại để có biện pháp quản lý phù hợp. Phân loại TSCĐ là việc phân chia TSCĐ ra thành những nhóm, những loại khác nhau theo những tiêu thức phân loại nhất định.
Sau đây là một số biện pháp phân loại chủ yếu: - Phân loại theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế Theo phương pháp này, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia làm 2 loại: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình. SV: Nguyễn Tuấn Thành - Lớp CQ46/11.09 7 Luận văn Cuối khoá + TSCĐ hữu hình: Là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh như: nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc, thiết bị; phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn; thiết bị, dụng cụ quản lý; vườn cây lâu năm. + TSCĐ vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị, do doanh nghiệp quản lý và sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ cho các đối tượng khỏc thuờ phù hợp với tiêu chuẩn TSCĐ vô hình như quyền phát hành, nhãn hiệu hàng hoá, bản quyền, bằng sáng chế,… Phương pháp phân loại này giúp cho nhà quản lý thấy được cơ cấu đầu tư vào TSCĐ theo hình thái biểu hiện, là căn cứ để quyết định đầu tư dài hạn hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho phù hợp và có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loại TSCĐ. - Phân loại theo mục đích sử dụng Dựa theo tiêu thức này, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia làm hai loại: + TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: Là những TSCĐ đang dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất kinh doanh phụ của doanh nghiệp.
+ TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng: Là những tài sản cố định không mang tính chất sản xuất do doanh nghiệp quản lý sử dụng cho các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp và các hoạt động đảm bảo an ninh, quốc phòng. Cách phân loại này giúp nhà quản lý doanh nghiệp thấy được kết cấu TSCĐ theo mục đích sử dụng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và tính khấu hao TSCĐ có tính chất sản xuất, có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loại TSCĐ. - Phân loại theo tình hình sử dụng Căn cứ vào tình hình sử dụng có thể chia TSCĐ của thành các loại: - TSCĐ đang dùng: đang tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp.