phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, phần nội dung luận văn đƣợc bố trí gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp xây dựng. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần xây dựng số 1 Bắc Giang. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty cổ phần xây dựng số 1 Bắc Giang trong thời gian sắp tới. 5 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1.
Doanh nghiệp xây dựng Doanh nghiệp xây dựng là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đƣợc thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh xây dựng [3]. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng đƣợc thể hiện ở 3 yếu tố về sản phẩm xây dựng, quy trình sản xuất sản phẩm xây dựng và thị trƣờng xây dựng. * Về sản phẩm xây dựng: Sản phẩm của ngành xây dựng với tƣ cách là các công trình xây dựng đã hoàn thành (bao gồm cả việc lắp đặt thiết bị công nghệ ở bên trong), thƣờng có những đặc điểm sau: - Sản phẩm mang tính cá biệt, đa dạng về công dụng, cơ cấu và cả về phƣơng diện chế tạo. Sản phẩm mang tính đơn chiếc vì phụ thuộc vào đơn đặt hàng của chủ đầu tƣ, điều kiện địa lý, địa chất công trình nơi xây dựng.
- Sản phẩm của xây dựng là những công trình nhà cửa đƣợc xây dựng và sử dụng tại chỗ, đứng cố định tại địa điểm xây dựng và phân bố tản mạn ở nhiều nơi trên lãnh thổ. Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng có tính chất lƣu động cao và thiếu ổn định. - Sản phẩm xây dựng thƣờng có kích thƣớc lớn và trọng lƣợng lớn, vốn đầu tƣ xây dựng lớn, thời gian xây dựng và thời gian sử dụng lâu dài. Do đó, những sai lầm về xây dựng có thể gây nên lãng phí lớn, tồn tại lâu dài và khó sửa chữa.
Sản phẩm xây dựng chủ yếu đóng vai trò nâng đỡ và bao che, không tác động trực tiếp lên đối tƣợng lao động trong quá trình sản xuất (trừ một số loại công trình đặc biệt nhƣ đƣờng ống, công trình thủy lực, lò luyện gang thép. 6 - Sản phẩm có liên quan đến nhiều ngành cả về phƣơng diện cung cấp các yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phƣơng diện sử dụng công trình. - Sản phẩm xây dựng liên quan đến cảnh quan môi trƣờng và môi trƣờng tự nhiên, do đó liên quan nhiều đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân cƣ của địa phƣơng nơi đặt công trình. - Sản phẩm mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa - nghệ thuật và quốc phòng.
Sản phẩm chịu nhiều ảnh hƣởng của nhân tố thƣợng tầng kiến trúc, mang bản sắc truyền thống dân tộc, thói quen tập quán sinh hoạt… * Về sản xuất sản phẩm xây dựng Từ những đặc điểm của sản phẩm xây dựng có thể thấy đƣợc đặc điểm của sản xuất sản phẩm xây dựng nhƣ sau: - Thứ nhất, tình hình và điều kiện sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo địa điểm xây dựng và giai đoạn xây dựng. Cụ thể là trong xây dựng, con ngƣời và công cụ lao động luôn luôn phải di chuyển từ công trƣờng này đến công trƣờng khác, còn sản phẩm xây dựng (tức là công trình xây dựng) thì hình thành và đứng yên tại chỗ. Đây là một đặc điểm hiếm thấy ở các ngành khác. Các phƣơng án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn luôn phải thay đổi theo từng địa điểm và giai đoạn xây dựng.
Đặc điểm này gây ra những khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, khó cải thiện điều kiện cho ngƣời lao động, làm nảy sinh nhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lƣợng sản xuất và cho công trình tạm phục vụ sản xuất. Đặc điểm này cũng đòi hỏi các tổ chức xây dựng phải chú ý tăng cƣờng tính cơ động, linh hoạt và gọn nhẹ về mặt trang bị tài sản cố định sản xuất, lựa chọn các hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, tăng cƣờng điều hành tác nghiệp, phấn đấu giảm chi phí liên quan đến vận chuyển, lựa chọn vùng hoạt động thích 7 hợp, lợi dụng tối đa lực lƣợng xây dựng tại chỗ và liên kết tại chỗ để tranh thầu xây dựng, chú ý đến nhân tố chi phí vận chuyển khi lập giá tranh thầu. Đặc điểm này cũng đòi hỏi phải phát triển rộng khắp trên lãnh thổ các loại hình dịch vụ sản xuất phục vụ xây dựng nhƣ: các dịch vụ cho thuê máy xây dựng, cung ứng và vận tải, sản xuất vật liệu xây dựng… - Thứ hai, chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thƣờng dài. Đặc điểm này làm cho vốn đầu tƣ xây dựng công trình và vốn sản xuất của tổ chức xây dựng thƣờng bị ứ đọng lâu tại công trình đang còn xây dựng, các tổ chức xây dựng dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian, công trình xây dựng xong dễ bị hao mòn vô hình do tiến bộ của khoa học và công nghệ… nếu thời gian xây dựng quá dài.
Đặc điểm này đòi hỏi các tổ chức xây dựng phải chú ý đến nhân tố thời gian khi lựa chọn phƣơng án, phải lựa chọn phƣơng án có thời gian hợp lý, phải có chế độ thanh toán và kiểm tra chất lƣợng trung gian thích hợp, dự trữ hợp lý. - Thứ ba, sản phẩm xây dựng thƣờng sản xuất theo phƣơng pháp đơn chiếc, thi công công trình thƣờng theo đơn đặt hàng của chủ đầu tƣ cho từng trƣờng hợp cụ thể. Trong phần lớn các ngành sản xuất khác, ngƣời ta có thể sản xuất hàng loạt sản phẩm để bán. Nhƣng với các công trình xây dựng thì không thể làm thế đƣợc, trừ một số trƣờng hợp hiếm hoi khi chủ đầu tƣ làm sẵn một số nhà để bán, nhƣng ngay cả ở đây, mỗi nhà cũng đều có những đặc điểm riêng do điều kiện địa chất và địa hình đem lại.
Do đó, sản xuất xây dựng của các tổ chức xây dựng có tính bị động và rủi ro cao vì nó phụ thuộc vào kết quả đấu thầu; việc thống nhất hoá, điển hình hoá các mẫu sản phẩm và công nghệ chế tạo sản phẩm xây dựng gặp nhiều khó khăn. Đặc điểm này dẫn đến yêu cầu là phải xác định giá cả của sản phẩm xây dựng trƣớc khi sản phẩm đƣợc làm ra và hình thức giao nhận thầu hoặc đấu thầu cho xây dựng từng công trình cụ thể trở nên phổ biến trong sản xuất xây dựng. Đặc điểm 8 này cũng đòi hỏi các tổ chức xây dựng muốn thắng thầu phải tích luỹ nhiều kinh nghiệm cho nhiều trƣờng hợp xây dựng cụ thể và phải tính toán cẩn thận khi tranh thầu. - Thứ tƣ, quá trình sản xuất mang tính tổng hợp, cơ cấu sản xuất phức tạp, các công việc xen kẽ và ảnh hƣởng lẫn nhau.
Quá trình sản xuất, thƣờng có nhiều đơn vị cùng tham gia tại hiện trƣờng thi công với một diện tích có hạn để thực hiện phần việc của mình, theo một trình tự nhất định về thời gian và không gian. Đặc điểm này đòi hỏi các tổ chức xây dựng phải có trình độ tổ chức phối hợp cao trong sản xuất, coi trọng công tác chuẩn bị xây dựng và thiết kế tổ chức thi công, phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức xây dựng tổng thầu hay thầu chính và các tổ chức thầu phụ. - Thứ năm, sản xuất xây dựng nói chung thực hiện ngoài trời nên chịu nhiều ảnh hƣởng của điều kiện thiên nhiên đến các hoạt động lao động. Ảnh hƣởng của thời tiết thƣờng làm gián đoạn quá trình thi công, năng lực sản xuất của tổ chức xây dựng không đƣợc sử dụng điều hoà theo bốn quý, gây khó khăn cho việc lựa chọn trong trình tự thi công, đòi hỏi dự trữ vật tƣ nhiều hơn ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Đặc điểm này đòi hỏi các các tổ chức xây dựng phải lập tiến độ thi công hợp lý để tránh thời tiết xấu, phấn đấu tìm cách hoạt động tròn năm, áp dụng kết cấu lắp ghép làm sẵn trong xƣởng một cách hợp lý để giảm bớt thời gian thi công tại hiện trƣờng, áp dụng cơ giới hoá hợp lý, chú ý độ bền chắc của máy móc thiết bị, đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện điều kiện làm việc của công nhân, chú ý đến nhân tố rủi ro về thời tiết khi tính toán tranh thầu, quan tâm phát triển phƣơng pháp xây dựng trong điều kiện nhiệt đới. - Thứ sáu, sản xuất xây dựng chịu ảnh hƣởng của lợi nhuận chênh lệch do điều kiện của địa điểm xây dựng đem lại. Cùng một loại công trình xây dựng nhƣng nếu nó đƣợc đặt ở nơi có sẵn nguồn nguyên vật liệu xây dựng, 9 nguồn máy móc xây dựng cho thuê và sẵn nhân công thì ngƣời nhận thầu xây dựng ở trƣờng hợp này có nhiều cơ hội hạ thấp chi phí sản xuất và thu đƣợc lợi nhuận cao hơn. - Thứ bảy, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm xây dựng đƣợc thực hiện theo một quy trình riêng.
Nhận thầu, Lập kế hoạch Tổ chức Nghiệm thu, bàn ký hợp đồng thi công thi công giao công trình Sơ đồ 1: QUY TRÌNH SẢN XUẤT SẢN PHẨM XÂY DỰNG Ngoài ra, ở Việt Nam có những đặc điểm xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế xã hội đã tác động không nhỏ tới công tác tổ chức sản xuất trong toàn ngành xây dựng, nhƣ: lực lƣợng xây dựng nƣớc ta rất đông đảo, song còn phân tán manh mún, thiếu công nhân lành nghề; trình độ trang bị máy móc thiết bị tiên tiến còn rất hạn chế; trình độ tổ chức thi công và quản lý xây dựng kém… * Về thị trường xây dựng: Xét trong phạm vi rộng về lĩnh vực đầu tƣ xây dựng thì các doanh nghiệp xây dựng là bên cầu và các doanh nghiệp cung cấp vật tƣ cho xây dựng là bên cung. Xét trong phạm vi hẹp của sản xuất xây lắp thì các doanh nghiệp xây dựng đóng vai trò bên cung và các chủ đầu tƣ đóng vai trò bên cầu. Cung cầu trong xây dựng có sự gián đoạn hơn so với các ngành khác vì nhu cầu đầu tƣ xây dựng nhà cửa và công trình không thể xảy ra thƣờng xuyên nếu nhìn nhận theo từng chủ đầu tƣ riêng rẽ. Đặc điểm này làm cho các doanh nghiệp xây dựng khó kiếm đƣợc việc làm thƣờng xuyên hơn so với các ngành khác.