CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.VỐN KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn kinh doanh 1. Khái niệm vốn kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau, bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề cũng như lĩnh vực kinh doanh. Như vậy, trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh.
Các doanh nghiệp luôn tự vạch ra các mục tiêu kết hợp với mục tiêu của toàn ngành do nhà nước hoạch định và phải có những biện pháp cụ thể để thực hiện mục tiêu đó. Có thể nói mọi hoạt động của doanh nghiệp dưới bất kỳ hình thức nào về bản chất đều nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản của thị trường nhằm mưu cầu lợi nhuận. Để thực hiện được vấn đề này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tiền vốn nhất định để thực hiện các khoản đầu tư cần thiết ban đầu như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí mua nguyên vật liệu, trả lương, trả lãi tiền vay, nộp thuế.Ngoài ra còn đầu tư thêm công nghệ, mua sắm máy móc, thiết bị để tái sản xuất mở rộng, phát triển doanh nghiệp. Vậy vốn là gì? Nhà kinh tế học người Anh William Petty đưa ra luận điểm đầu tiên về vốn: “ Lao động là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải vật chất”.
Hiểu một cách đơn giản là nguồn gốc của mọi của cải vật chất trong xã hội đều xuất phát từ nguồn lực của con người, đất đai và tài nguyên thiên nhiên. Kế thừa những tư tưởng đó, Marx đã trình bày quan điểm của mình về vốn “ Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản xuất”. Với quan niệm đó, Marx mới chỉ đề cập đến khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Luan van 8 Samuelson - Nhà kinh tế học theo trường phái “Tân cổ điển” đã kế thừa những quan điểm của trường phái cổ điểm về các yếu tố sản xuất và phân chia các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ra thành ba loại chủ yếu là đất đai, lao động và vốn.
Theo ông, vốn là hàng hóa sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Như vậy, trong quan niệm về vốn của mình Samuelson không đề cập đến các tài sản tài chính, các giấy tờ có giá có thể mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp thông qua chuyển đổi, ông đã đồng nhất vốn với tài sản cố định của doanh nghiệp. Vốn là một phạm trù kinh tế cơ bản, vốn gắn kiền với nền tảng sản xuất hàng hoá. Vốn là toàn bộ giá trị ứng ra ban đấu và quá trình tiếp theo cho hoạt động kinh doanh.
Từ những quan niệm trên, các tác giả đã thống nhất và đưa ra khái niệm về vốn kinh doanh của doanh nghiệp: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”. 1 Vốn là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, không chỉ trong doanh nghiệp mà còn trong toàn xã hội. Đối với mỗi doanh nghiệp, muốn tiến hành kinh doanh thì phải có vốn và trong nền kinh tế thị trường vốn là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quyết định tới sự thành bại trong kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc trưng của vốn kinh doanh Việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ các đặc trưng của vốn kinh doanh là những vấn đề cơ bản giúp doanh nghiệp huy động, quản lý, sử dụng vốn kinh doanh một các tiết kiệm, hiệu quả.
Sau đây là những đặc trưng chủ yếu của vốn kinh doanh : - Vốn là đại diện cho một lượng tài sản nhất định. Có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và vô hình của doanh nghiệp. Như vậy để quản lý vốn chúng ta không chỉ quản lý về mặt giá trị mà còn phải quản lý chặt chẽ về mặt hiện vật, cụ thể là các tài sản trong doanh nghiệp. - Vốn phải được vận động nhằm mục đích sinh lời.
TS Vũ Công Ty, Bùi Văn Vần – Học viện Tài Chính Luan van 9 Vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để tiền biến thành vốn thì đồng tiền đó phải được vận động sinh lời. Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện những điểm xuất phát và điểm cuối cùng của tuần hoàn phải là tiền với giá trị lớn hơn, tức là kinh doanh có lãi. - Vốn phải gắn với chủ sở hữu.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp luôn gắn với một chủ sở hữu nhất định. Chỉ khi xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn mới được chi tiêu tiết kiệm, hiệu quả. Các doanh nghiệp không thể mua bán quyền sở hữu vốn mà chỉ có thể mua bán quyền sử dụng vốn kinh doanh trên thị trường tài chính. Để có được quyền sử dụng vốn kinh doanh nghiệp phải trả cho chủ sở hữu nguồn vốn một lượng giá trị nhất định gọi là chi phí cơ hội trong việc sử dụng vốn.
Khi gắn với các chủ sở hữu khác nhau sẽ có những ưu, nhược điểm và chi phí sử dụng vốn khác nhau. - Vốn phải được tích tụ, tập trung đên một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng. Để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, cần phải có một lượng vốn đủ lớn để mua sắm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu. Do vậy doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn mà còn phải tìm cách thu hút, tập trung vốn từ nhiều nguồn khác nhau.
- Vốn có giá trị về thời gian. Do tác động của các yếu tố khả năng sinh lời và rủi ro nên vốn kinh doanh của doanh nghiệp luôn có giá trị theo thời gian. Các yếu tố tác động có thể là đầu tư, lạm phát, chính trị. Chính vì vậy khi phân tích một phương án sản xuất kinh doanh thì yếu tố đầu tư sinh lời cần cân nhắc tới thời gian thu hồi vốn.
- Vốn là hàng hóa đặc biệt. Vốn có giá trị và giá trị sử dụng. Khác với hàng hóa thông thường, người ta chỉ mua được quyền sử dụng chứ không mua được quyền sở hữu vốn. Khi được sử dụng vốn sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn.
Người mua được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định và phải trả cho người sở hữu một khoản tiền đó là lãi. Phân loại vốn kinh doanh Căn cứ vào đặc điểm tuần hoàn của vốn kinh doanh, ta có thể chia vốn kinh doanh của doanh nghiệp thành hai loại.1 Vốn cố định Vốn cố định là sự biểu hiện bằng tiền các tài sản cố định của doanh nghiệp. Tài sản cố định của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài. Tài sản cố định của các doanh nghiệp bao gồm các loại sau đây: Thứ nhất, tài sản cố định vô hình, bao gồm các khoản: + Chi phí thành lập, chi phí xây dựng, tăng vốn.
+ Chi phí nghiên cứu phát triển. Chi phí này phải đảm bảo ba điều kiện: - Chi phí này phải thực sự là của doanh nghiệp và nhằm mục địch phát triển doanh nghiệp. - Các dự án phải có khả năng thành công về mặt kỹ thuật và có khả năng sinh lợi về mặt thương mại. - Phải được khấu hao tương đối dài.
Thông thường ở một số nước quy định khấu hao trong năm năm. + Lợi thế thương mại: Vị trí cửa hàng và quyền cho thuê cửa hàng. + Uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp, nhãn hiệu. Thứ hai, tài sản cố định hữu hình: Gồm tất cả các đầu tư công nghệ của doanh nghiệp và tạo ra năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.
- Nhà kho, nhà cửa hàng, nhà văn phòng. - Các phương tiện vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, quảng cáo hàng hóa… - Các công cụ văn phòng, các tài sản cố định phục vụ chung. - Các khoản ứng trước để mua sắm tài sản cố định: Ứng trước cho công trình, tài sản cố định dở dang, xây dựng cơ bản dở dang. Thứ ba, đầu tư tài chính dài hạn, bao gồm: - Các cổ phiếu đầu tư vào các doanh nghiệp khác.
Đây là những cổ phần hoặc phần góp vốn của doanh nghiệp với các doanh nghiệp bạn. Đây là một loại tài Luan van 11 sản cố định mới của các doanh nghiệp và gắn liền với nền kinh tế thị trường. Xem xét chính sách đầu tư vào cổ phiếu trong các doanh nghiệp khác cho ta thấy thông tin về chiến lược phát triển đa dạng hóa của doanh nghiệp. Các tài sản này không phải khấu hao nhưng phải có dự phòng giảm giá nếu giá thị trường của nó bị giảm.
- Tái phiếu: Mua trái phiếu dài hạn của các công ty khác. Thực chất đây là một hình thức cho vay dài hạn nhưng khoản vay này có thể thu hồi vốn trước hạn bằng cách chuyển nhượng trên thị trường chứng khoán cấp II. - Tiền cho vay: Đó là các khoản cho vay dài hạn đối với các doanh nghiệp bạn dưới hình thức hợp đồng. Khác với trái phiếu, khoản cho vay này không có khả năng chuyển nhượng nên chỉ khi hết hạn cho vay mới thu hồi vốn được.
- Các tín phiếu và nợ phải thu đã được tài sản cố định hóa: Tiền đặt cọc, các khoản ký cược v.2 Vốn lưu động Vốn lưu động là sự biểu hiện bằng tiền các tài sản lưu động của doanh nghiệp. Tài sản lưu động của doanh nghiệp là những tài sản tiền tệ hoặc có thể chuyển thành tiền trong chu kỳ kinh doanh. Vốn bằng tiền, bao gồm: + Tiền mặt tại quỹ (Gồm cả ngân phiếu) + Tiền gửi ngân hàng + Tiền đang chuyển b. Hàng tồn kho: Các loại tài sản hàng tồn kho được phân loại theo trật tự của qui trình kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm: + Hàng tồn kho + Hàng đang đi trên đường + Hàng gửi bán Trong nển kinh tế thị trường tài sản hàng tồn kho còn bao gồm cả phần dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Ứng trước và trả trước: Đây là những khoản ứng và thanh toán trước cho các nhà cung ứng theo hợp đồng kinh doanh, các khoản tạm ứng khác. Các khoản phải thu: Bao gồm + Phải thu từ khách hàng: Thanh toán với người mua.