CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tài sản của Doanh nghiệp 1. Khái niệm về tài sản “Tài sản của doanh nghiệp là các nguồn lực có giá trị kinh tế, có khả năng mang lại lợi ích trong tương lai. Doanh nghiệp có thể đầu tư vào rất nhiều các loại tài sản khác nhau để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Mỗi một loại tài sản có đặc điểm riêng, có rủi ro riêng và có khả năng tạo ra lợi nhuận khác nhau. Nguyên tắc sắp xếp các khoản mục tài sản trên bảng cân đối kế toán tuân thủ theo nguyên tắc tính thanh khoản giảm dần” (Vũ Duy Hào & Trần Minh Tuấn, 2023). Theo giáo trình Nguyên lý kế toán, tài sản được định nghĩa là “Tất cả những nguồn lực kinh tế mà đơn vị kế toán đang nắm giữ, sử dụng cho hoạt động của đơn vị, thỏa mãn đồng thời các điều kiện: (1) Đơn vị có quyền sở hữu hoặc kiểm soát và sử dụng trong thời gian dài; (2) Có giá trị xác định; (3) Chắc chắn thu được lợi ích trong tương lai từ việc sử dụng các nguồn lực này”. Theo Bộ tài chính (2014) nêu rõ: “Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hóa hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp”.
Tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, như tài sản thuê tài chính, hoặc có những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng có thể không kiểm soát được về mặt pháp lý, như bí quyết kỹ thuật thu được từ hoạt động triển khai có thể thỏa mãn các điều kiện trong định nghĩa về tài sản khi các bí quyết đó còn giữ được bí mật và doanh nghiệp còn thu được lợi ích kinh tế. Mọi doanh nghiệp khi muốn triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần sở hữu những tài sản cần thiết. Vốn, thể hiện dưới dạng giá trị tiền tệ, chính là biểu hiện của các tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ. Tài sản và vốn là hai khía cạnh, một mặt là hiện vật, một mặt là giá trị, của nguồn lực sản xuất được doanh nghiệp huy động vào hoạt động kinh doanh.
Vì vậy, việc quản lý vốn và tài sản đóng vai trò then chốt trong 4 quản lý tài chính. Mục tiêu cốt lõi của công tác này là đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, ổn định và đạt hiệu quả kinh tế tối ưu. Phân loại tài sản của doanh nghiệp Để quản lý và sử dụng tài sản một cách hiệu quả, việc phân loại tài sản là điều cần thiết và được các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm, bởi nó tác động trực tiếp đến chi phí sử dụng và cơ cấu tài sản. Thông thường, tài sản của doanh nghiệp được chia thành hai nhóm chính: tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.
• Tài sản ngắn hạn “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong một năm tài chính. Tài sản ngắn hạn có thể tồn tại dưới hình thái dạng tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa), các khoản đầu tư tài chính và nợ phải thu” (Vũ Duy Hào & Trần Minh Tuấn, 2023). Trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh hay có thời gian trong vòng một năm như tiền mặt, nguyên vật liệu,. Sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh và bắt đầu chu kỳ mới, doanh nghiệp phải sử dụng tài sản ngắn hạn mới.
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có đặc điểm là toàn bộ giá trị của chúng được chuyển vào sản phẩm trong mỗi kỳ sản xuất kinh doanh và sẽ được thu hồi khi sản phẩm được tiêu thụ. Trên bảng cân đối kế toán, tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, tài sản tài chính ngắn hạn như chứng khoán có tính thanh khoản cao, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn từ khách hàng, hàng tồn kho, cùng các tài sản ngắn hạn khác. Tài sản ngắn hạn (trừ dụng cụ lao động) sau quá trình sản xuất sẽ trở thành một phần của sản phẩm, và do đó hình thái biểu hiện của tài sản ngắn hạn luôn thay đổi theo từng giai đoạn của chu kỳ kinh doanh. Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp thu được số tiền lớn hơn số tiền đã chi ra ban đầu để mua nguyên vật liệu, do chi phí nhân công, chi phí khấu hao, và lãi kinh doanh được cộng vào giá trị sản phẩm tiêu thụ.
Để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, doanh nghiệp phải luôn duy trì dự trữ tài sản ngắn hạn ở mọi khâu, từ nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm cho đến các khoản phải thu và tiền mặt. Đây chính là hình thái tồn tại của tài sản ngắn hạn tại mỗi thời điểm. Một đặc điểm quan trọng khác của tài sản ngắn hạn là tính thanh khoản cao, có thể dễ dàng chuyển đổi từ dạng vật chất sang tiền tệ, giúp doanh nghiệp đáp ứng khả năng thanh toán. Tuy nhiên, chính vì tính thanh khoản cao mà tài sản ngắn hạn có tính vận động phức tạp và khó quản lý.Tài sản ngắn hạn bao gồm các thành phần sau: 5 Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang trong quá trình lưu thông.
Các khoản tương đương tiền là những khoản đầu tư ngắn hạn có thời gian đáo hạn không quá 3 tháng, dễ dàng chuyển đổi thành tiền và không có nhiều rủi ro trong quá trình chuyển đổi. Tài sản tài chính ngắn hạn: Bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời gian thu hồi dưới một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh (như tín phiếu Kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng.), hoặc chứng khoán mua bán để kiếm lời, cùng các khoản đầu tư tài chính khác có thời gian dưới một năm. Các khoản phải thu ngắn hạn: Các khoản phải thu ngắn hạn bao gồm các khoản phải thu từ khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu khác, với thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm. Hàng tồn kho: Bao gồm vật tư, hàng hóa, sản phẩm, và sản phẩm dở dang.
Đối với doanh nghiệp thương mại, hàng tồn kho chủ yếu là hàng hóa mua vào để bán lại. Trong khi đó, tại doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm. Ngoài ra, các loại hàng hóa đã mua nhưng đang vận chuyển, hàng đã xuất kho gửi bán, cũng như hàng hóa lưu trữ tại cửa hàng chưa bán, đều được tính vào danh mục hàng tồn kho của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn khác, bao gồm: Chi phí trả trước ngắn hạn, Thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác.
Phải thu ngắn hạn của khách hàng là tiền bán hàng hóa, dịch vụ chưa thu được nhưng đã được khách hàng chấp nhận thanh toán và tính vào doanh thu bán hàng trong kỳ. • Tài sản dài hạn “Tài sản dài hạn của một doanh nghiệp là những tài sản có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong nhiều kỳ kinh doanh hoặc dài hơn một năm tài chính. Tài sản dài hạn bao gồm tài sản cố định (hữu hình, vô hình, thuê tài chính), bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn, các khoản phải thu dài hạn và các tài sản dài hạn khác” (Vũ Duy Hào & Trần Minh Tuấn, 2023). Dưới đây là một số loại tài sản dài hạn của doanh nghiệp: Các khoản phải thu dài hạn: là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên một năm.
Bất động sản đầu tư: là những bất động sản, gồm quyền sử dụng đất, nhà hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc 6 người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường. Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau: - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. - Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cậy. Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm giá mua và các chi phí hợp lý liên quan trực tiếp như: phí dịch vụ tư vấn luật pháp liên quan, thuế trước bạ và các chi phí giao dịch có liên quan khác.
Tài sản cố định: Là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho các hoạt động của doanh nghiệp. Trong điều kiện hiện nay, việc đầu tư đổi mới tài sản cố định là một trong các yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bởi vì: - Tài sản cố định là yếu tố quyết định năng lực sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. - Nhờ đổi mới tài sản cố định mới có được năng suất cao, chất lượng sản phẩm và dịch vụ tốt, chi phí tạo ra sản phẩm, dịch vụ thấp tạo điều kiện đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ làm tăng doanh thu và do đó doanh nghiệp mới có đủ sức cạnh tranh trên thị trường.