CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU 1. Những vấn đề cơ bản về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1. Khái niệm, bản chất của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1. Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Theo giáo trình thuế của Học viện Tài chính: “Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là sắc thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam” [12, tr 9].
Trên thực tế có rất nhiều loại thuế được chia ra do hai cơ quan thu chủ yếu đó là cơ quan Thuế và cơ quan Hải quan. Cơ quan Thuế chịu trách nhiệm thu thuế nội địa, cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm thu thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam, bao gồm: + Thuế xuất khẩu (thuế thu từ hàng hoá xuất khẩu): là khoản tiền người xuất khẩu phải nộp khi tiến hành làm thủ tục hải quan xuất khẩu hàng hoá ra khỏi biên giới. + Thuế nhập khẩu (thuế thu từ hàng hoá nhập khẩu). Thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu động viên từ người tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu nhằm góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước và bảo hộ sản xuất trong nước.
Thuế nhập khẩu với mục tiêu kinh tế là bảo hộ sản xuất trong nước và tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc thu vào hàng hoá được phép nhập khẩu từ nước ngoài hoặc từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước; là thuế đánh vào hàng hóa khi nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới quốc gia; hàng hoá đưa từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước. Thuế nhập khẩu là thuế gián thu - một trong những yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá. Thuế nhập khẩu do các tổ chức, cá nhân có hàng hoá nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp theo quy định của pháp luật với mức độ và thời hạn cụ thể. Sử dụng tốt chính sách thuế nhập khẩu là phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của thuế, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và điều 6 tiết vĩ mô nền kinh tế.
Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thuế nhập khẩu còn là công cụ thể hiện chính sách kinh tế đối ngoại của quốc gia với các quốc gia khác trong thương mại quốc tế [12, tr 25]. Việc sử dụng có hiệu quả thuế nhập khẩu chính là phát huy đầy đủ các chức năng cơ bản của nó trong lĩnh vực hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa. Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và khu vực thì thuế nhập khẩu càng thể hiện vai trò và tác dụng không chỉ là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, mà còn là công cụ thể hiện chính sách đối ngoại giữa các quốc gia với nhau. Bản chất của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Thuế xuất nhập khẩu là một loại thuế quan trọng với những đặc điểm riêng của nó như sau: Một là, thuế xuất nhập khẩu là loại thuế gián thu nhằm động viên một phần giá trị mới nằm trong giá cả hàng hoá trao đổi qua biên giới một nước.
Người tiêu dùng là người chịu thuế. Người nộp thuế là các tổ chức, cá nhân có hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Nhà nước sử dụng thuế xuất nhập khẩu để điều chỉnh hoạt động ngoại thương thông qua việc tác động vào cơ cấu giá cả của hàng hóa. Hai là, thuế xuất nhập khẩu thu vào các nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu hoặc nhập khẩu, gắn liền với hoạt động ngoại thương.
Thuế xuất nhập khẩu là công cụ quan trọng của Nhà nước nhằm kiểm soát hoạt động ngoại thương thông qua việc kê khai, tính thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu. Ba là, thuế xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố quốc tế như sự biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế… 1. Căn cứ tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu [12, tr31-tr33] * Đối với hàng hoá áp dụng thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%): căn cứ tính thuế là số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan, giá tính thuế từng mặt hàng và thuế suất từng mặt hàng. - Số lượng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu: là số lượng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu.
Số lượng này được xác định dựa vào tờ khai hải quan của các tổ chức, cá nhân có hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. 7 - Giá tính thuế: Đối với hàng xuất khẩu là giá bán tại cửa khẩu xuất theo hợp đồng (giá FOB, giá DAF), không bao gồm phí vận tải (F) và bảo hiểm (I) Đối với hàng nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên theo hợp đồng, được xác định bằng cách áp dụng tuần tự 06 phương pháp xác định trị giá tính thuế và dừng ngay ở phương pháp xác định được trị giá tính thuế 06 phương pháp xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu bao gồm: - Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu; - Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu giống hệt; - Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu tương tự; - Phương pháp trị giá khấu trừ; - Phương pháp trị giá tính toán; - Phương pháp suy luận. - Thuế suất của hàng hoá Thuế suất đối với hàng hoá xuất khẩu được quy định cụ thể cho từng mặt hàng tại Biểu thuế xuất khẩu. Thuế suất đối với hàng hoá nhập khẩu được quy định cụ thể cho từng mặt hàng, gồm: thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt và thuế suất thông thường.
+ Thuế suất ưu đãi áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Thuế suất ưu đãi được quy định cụ thể cho từng mặt hàng tại biểu thuế ưu đãi do Bộ Tài chính ban hành. + Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam theo thể chế khu vực thương mại tự do, liên minh quan thuế hoặc để tạo thuận lợi cho việc giao lưu thương mại biên giới và trường hợp ưu đãi đặc biệt khác. 8 + Thuế suất thông thường áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ không thực hiện đối xử tối huệ quốc và không thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu đối với Việt nam.
Thuế suất thông thường được áp dụng thống nhất bằng 150% mức thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng quy định tại biểu thuế nhập khẩu ưu đãi. * Đối với hàng hoá áp dụng mức thuế suất tuyệt đối Căn cứ tính thuế là số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan và mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa. Số lượng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu làm căn cứ tính thuế là số lượng từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu trong tờ khai hải quan thuộc danh mục hàng hoá áp dụng thuế suất tuyệt đối. Vai trò của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Thuế xuất nhập khẩu là một loại thuế gián thu, tác động vào giá cả hàng hóa, do đó nó trực tiếp tác động đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa đó trên thị trường.
Thuế nhập khẩu cao làm tăng thêm giá thành hàng hóa nhập khẩu do vậy sẽ hạn chế lượng hàng nhập khẩu trên thị trường, góp phần tăng tính cạnh tranh cho hàng hóa nội địa. Ngoài ra, thuế nhập khẩu cao còn tạo cơ hội phát triển cho mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu ở thị trường nội địa đó. Ngược lại, thuế xuất khẩu thấp khiến cho lượng hàng hóa xuất khẩu nhiều hơn và với mức giá bán ra thị trường quốc tế cũng thấp hơn, làm tăng khả năng cạnh tranh cho mặt hàng này trên thị trường thế giới. Như vậy, thuế xuất nhập khẩu tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động thương mại cũng như sự phát triển kinh tế của quốc gia.
Vai trò của thuế xuất nhập khẩu có thể được liệt kê cụ thể bao gồm: Một là, tạo nguồn thu ngân sách nhà nước: Để thực sự phát huy vai trò tạo nguồn thu ngân sách nhà nước, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải bao quát hết các hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá của các tổ chức, cá nhân, đảm bảo thu đúng, thu đủ và nộp kịp thời tiền thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vào 9 ngân sách nhà nước. Thông qua thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Nhà nước huy động một phần thu nhập được tạo ra từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá để tập trung vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, nếu Nhà nước dùng quyền lực của mình để huy động quá mức thu nhập thì phần thuộc về tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá sẽ giảm xuống, họ sẽ cảm thấy công sức bỏ vào kinh doanh được bù đắp không thoả đáng, từ đó họ chuyển sang kinh doanh ngầm để trốn thuế hoặc chấm dứt hoạt động kinh doanh, dẫn đến Nhà nước không thu được thuế, thất thu thuế. Vì vậy, khi tái phân phối thu nhập bằng thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải chú ý đến khả năng nộp thuế của tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu.
Khả năng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là tỷ lệ tối đa (từ thu nhập có được thông qua hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá) trích ra để nộp thuế mà không ảnh hưởng hoặc thay đổi hoạt động kinh doanh của họ. Khả năng nộp thuế tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, ý thức chấp hành pháp luật, truyền thống văn hoá của mỗi quốc gia. Khả năng nộp thuế là một tiêu thức dùng để phân định ranh giới phân chia hợp lý thu nhập giữa Nhà nước động viên thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chưa đạt giới hạn khả năng nộp thuế thì nguồn lực xã hội tập trung vào ngân sách nhà nước chưa thật đầy đủ. Ngược lại, nếu Nhà nước động viên vượt giới hạn khả năng nộp thuế thì sẽ bào mòn, dẫn đến triệt tiêu hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá của các tổ chức, cá nhân do đó làm giảm sút số thu trong tương lai, không đảm bảo nuôi dưỡng nguồn thu.