Mở đầu Chương 2 : Tổng quan lý luận về công tác quản lý thu thuế Chương 3 : Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến tổng số thu thuế Chương 4 : Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý thu thuế đối với DN vừa và nhỏ tại Chi cục thuế quận Bình Thạnh Chương 5 : Phương hướng và giải pháp nâng cao kết quả thu thuế đối với DN vừa và nhỏ tại Chi cục thuế quận Bình Thạnh. 10 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ 2. Tổng quan về thuế, quản lý thuế, chính sách thuế 2.1 Khái niệm về thuế Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước do luật pháp qui định nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thuế là hình thức phân phối lại nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp.
Do đó, tại thời điểm nộp thuế, NNT không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem như đó là trách nhiệm và nghĩa vụ. Là công cụ hữu dụng để tạo nguồn thu chủ yếu cho ngân sách phục vụ cho mục tiêu của Nhà nước. Thông qua pháp luật về thuế, Nhà nước qui định các mức chuyển giao bắt buộc thu nhập từ các đối tượng chịu thuế vào ngân sách. Thuế luôn luôn gắn chặt với sự ra đời và phát triển của Nhà nước.
Bản chất của Nhà nước quy định bản chất của thuế. Về mặt lý luận, bản chất của Nhà nước vốn mang tính giai cấp. Vì vậy, suy cho cùng bản chất thuế cũng mang tính giai cấp. Các Mác viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước” [2; tr 403].
Do vậy theo Mac để duy trì các chức năng, nhiệm vụ quản lý kinh tế - xã hội Nhà nước phải có tiền và do đó thuế là thủ đoạn, là công cụ để Nhà nước thu tiền của dân chúng phục vụ sự chi tiêu đó. Chúng ta cũng có thể hiểu được điều này, thông qua nội dung cuộc nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại biểu nhân dân địa phương tại Thanh Hóa, ngày 13-6-1957, như sau: “…Có đồng bào nói, trước kia cũng phải nộp thuế, nay dân chủ cũng phải nộp thuế. Nói như thế có đúng không? Trước ta nộp thuế là nộp cho Tây, chúng lấy mồ hôi nước mắt của nhân dân ta mà làm giàu cho chúng nó, để xây dựng bộ máy áp bức bóc lột đồng bào ta. Nhưng nay ta đóng thuế là để làm lợi cho ta.” [3] Định nghĩa dưới đây được trích dẫn theo giáo trình “Lý thuyết về thuế” của Học Viện Tài Chính, năm 2008: “ Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” [4] Như vậy, một định nghĩa hoàn chỉnh về thuế cần hàm chứa các nội dung sau: 11 Thứ nhất, làm rõ nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với đối tượng nộp thuế.
Điều đó có nghĩa Nhà nước dùng quyền lực của mình để đặt ra các loại thuế và sử dụng thuế là công cụ chủ yếu để tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và do cơ quan lập pháp qui định Thứ hai, mối quan hệ trên nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt. Việc chuyển giao thu nhập có tính bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước và phải được qui định bằng pháp luật, không có sự bồi hoàn trực tiếp. Thứ ba, thuế là hình thức phân phối lại một phần của cải xã hội. Từ các yếu tố trên đây, có thể hiểu thuế là một hình thức đóng góp cho Nhà nước theo nghĩa vụ do luật định đối với các thể nhân và pháp nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; là hình thức phân phối lại một phần của cải xã hội.
Nó không mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế; được Nhà nước sử dụng như một công cụ kinh tế quan trọng nhằm huy động nguồn thu cho NSNN, điều chỉnh kinh tế và điều hòa thu nhập. Khái niệm quản lý thuế Trong cuốn giải thích thuật ngữ pháp lý Việt Nam có giải thích: “ Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra của tổ chức. Nó nhằm chỉ một tập hợp các hoạt động cần thiết phải được thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu chung” [1, tr. Có một số định nghĩa về quản lý được ghi nhận ở các tài liệu khác: “Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục đích đúng ý chí và phù hợp với quy luật khách quan” [5, tr.61] Hoặc “Quản lý là thuật ngữ chỉ hoạt động của con người nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra.
các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất” [6, tr.136] Trong một hệ thống, các yếu tố có mối quan hệ tác động qua lại khắng khít với nhau. Để hệ thống hoạt động ổn định Nhà nước thường quy định quy tắc ứng xử giữa các mối quan hệ. Trong hệ thống thuế, việc quy định các mối quan hệ này 12 thường được cụ thể hoá trong Luật quản lý thuế với nội dung cốt lõi không thể thiếu được là quy định mối quan hệ giữa bộ máy thu thuế với NNT theo chính sách thuế đang áp dụng. Hệ thống thuế và phân loại thuế 2.1 Hệ thống thuế Hệ thống chính sách thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và việc xây dựng các loại thuế, phương pháp thu thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định.
Số lượng các loại thuế nhiều hay ít tùy thuộc chủ trương của Nhà nước điều chỉnh thu nhập ở các hàng hóa dịch vụ khác nhau.23] Tùy theo tình hình chính trị kinh tế từng thời kỳ mà Nhà nước điều chỉnh hệ cho phù hợp. Điều đó có nghĩa là hệ thống thuế chịu sự chi phối của chính sách thuế. + Chính sách thuế là tổng hợp các phương hướng của Nhà nước trong lĩnh vực thu nộp thuế và các biện pháp hành thu để đạt được mục tiêu đã đề ra. + Chính sách thuế thể hiện đường lối và phương hướng động viên thu nhập dưới hình thức thuế trong nền kinh tế quốc dân.
+ Chính sách thuế được thể hiện bằng cách thiết lập các văn bản pháp luật, ban hành các loại thuế và ưu đãi về thuế trong từng giai đoạn phát triển nhất định.2 Phân loại thuế Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào NSNN, thuế được phân làm 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu. + Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đối với người sản xuất kinh doanh (SXKD). Tính chất gián thu thể hiện ở chỗ NNT và người chịu thuế không đồng nhất với nhau. Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động SXKD nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế.
Ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng (GTGT) , thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB). + Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của 13 các pháp nhân hoặc thể nhân. Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theo quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế. Thuế trực thu trực tiếp động viên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế.
Ở nước ta thuộc loại thuế này gồm:Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) , thuế chuyển quyền sử dụng đất (CQSDĐ), thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế. Căn cứ vào đối tượng đánh thuế, thuế được chia thành: Thuế đánh vào hoạt động SXKD, dịch vụ như thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu, thuế TTĐB. Thuế đánh vào thu nhập như thuế TNDN, thuế TNCN.
Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất, thuế đánh vào việc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, phí và lệ phí. Các loại thuế trên được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau để vừa phát huy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiện một cách tổng hợp các mục tiêu của hệ thống pháp luật thuế. Bản chất, chức năng, vai trò của thuế 2.1 Bản chất của thuế Hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất rằng: thuế là một khoản đóng góp bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân, được nhà nước quy định thông qua hệ thống pháp luật. Sự ra đời của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của nhà nước.
Thuế đã có quá trình phát triển lâu đời. Từ thời nhà nước chiếm hữu nô lệ đã xuất hiện các khoản thu bằng hiện vật, các khoản này cộng với các nguồn thu từ việc cưỡng bức lao động, bóc lột, nô dịch và chinh phục các dân tộc khác đã tạo ra mâu thuẫn xã hội và chính sự đấu tranh chống lại mâu thuẫn đó làm cho xã hội ngày càng phát triển. Cùng với sự phát triển của các quan hệ hàng hóa – tiền tệ, thuế cũng có những phát triển đáng kể so với ngày đầu hình thành: từ chỗ mang hình thức hiện vật, thuế đã dần dần chuyển sang hình thức tiền tệ. Khi xã hội còn tồn tại những mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp thì thuế còn được nhà nước động viên vào tay mình nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước.
Như vậy, bản chất của thuế là sự cưỡng chế nguồn tài chính từ nhân dân được 14 thực hiện bởi nhà nước. Người ta tổng kết được rằng khó mà tìm được sự khác biệt đáng kể về tính cưỡng chế của thuế giữa các khái niệm về thuế của từng nhà kinh tế.