Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn hiệu quả quản lý tài chính của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Số hóa bởi Trung tâm Họ c liệ u – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chương 2: Phương pháp nghiên cứu đề tài. Chương 3: Thực trạng hiệu quả quản lý tài chính tại Công ty Dịch vụ Viễn thông Vinaphone. Chương 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Công ty Dịch vụ Viễn thông Vinaphone. Số hóa bởi Trung tâm Họ c liệ u – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.
Cơ sở lý luận về quản lý tài chính và hiệu quả quản lý tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng 1. Quản lý tài chính doanh nghiệp 1. Lý luận cơ bản về hoạt động tài chính doanh nghiệp “DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” (Điều 4 - Luật DN 2005). Hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động SXKD nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình SXKD được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ.
Hoạt động TCDN tốt sẽ thúc đẩy hoạt động SXKD phát triển, bởi lẽ, trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ DN nào khi tiến hành hoạt động SXKD đều cần một lượng vốn tiền tệ nhất định. Từ số vốn tiền tệ ban đầu đó, DN mua sắm các yếu tố cần thiết cho quá trình SXKD như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu… Sau khi sản xuất xong, DN bán hàng và thu được tiền bán hàng. Số tiền bán hàng này được sử dụng để bù đắp các khoản chi phí vật chất đã tiêu hao, trả tiền công cho người lao động, các khoản chi phí khác, nộp thuế cho Nhà nước, phần còn lại là LNST, DN tiếp tục phân phối số lợi nhuận này. Quá trình hoạt động của DN cũng là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của DN, phát sinh các luồng tiền đi vào và luồng tiền đi Số hóa bởi Trung tâm Họ c liệ u – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 ra khỏi DN tạo thành luồng vận động TC của DN.
Bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của DN là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị hợp thành các quan hệ TC của DN: quan hệ TC giữa DN và Nhà nước, giữa DN với người lao động trong DN, giữa DN với các chủ sở hữu DN, giữa DN với các chủ thể kinh tế và tổ chức xã hội khác và quan hệ TC trong bản thân nội bộ DN. Như vậy, xét về hình thức, TCDN là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của DN; xét về bản chất, TCDN là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của DN trong quá trình hoạt động của DN. ý tài chính doanh nghiệp - Quản lý tài chính doanh nghiệp được hình thành để nghiên cứu, phân tích và xử lý các mối quan hệ tài chính trong DN, hình thành những công cụ quản lý tài chính và đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn và có hiệu quả. Quản lý tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức và thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, phát triển ổn định, không ngừng gia tăng giá trị của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Có nghĩa là quản lý tài chính là việc các nhà quản lý làm cách nào để huy động vốn nhanh và ổn định nhất, phân bổ và sử dụng nguồn vốn ấy có hiệu quả nhất, đưa lại lợi nhuận cao và phát triển ổn định doanh nghiệp. Như vậy, theo tác giả quản lý tài chính doanh nghiệp là một quá trình, từ việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng như môi trường hoạt động của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định tài chính hợp lý đến Số hóa bởi Trung tâm Họ c liệ u – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 đảm bảo các quyết định tài chính được thực hiện phù hợp với mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp. Nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp a. Lập kế hoạch tài chính Quy trình hoạch định tài chính của doanh nghiệp được thực hiện như sau: Nghiên cứu và dự báo môi trường kinh doanh Thiết lập các mục tiêu Không khả thi Xây dựng các phương án, thực hiện mục tiêu Khả thi Đánh giá các phương án Lựa chọn các phương án tối ưu Hình 1.
Quy trình hoạch định tài chính của doanh nghiệp Cụ thể: - Nghiên cứu và dự báo môi trƣờng Để xây dựng kế hoạch tài chính, doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu các nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Các nhà quản lý phải nghiên cứu môi trường bên ngoài để có thể xác định được các cơ hội, thách thức hiện có và tiềm ẩn ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp; nghiên cứu môi trường bên trong tổ chức để thấy được những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp để Số hóa bởi Trung tâm Họ c liệ u – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 có thể có những giải pháp hữu hiệu khắc phục những điểm yếu và phát huy cao độ những điểm mạnh. - Thiết lập các mục tiêu Mục tiêu tài chínhh của doanh nghiệp bao gồm các mục tiêu về lợi nhuận, mục tiêu doanh số và mục tiêu hiệu quả. Các mục tiêu tài chính cần xác định một cách rõ ràng, có thể đo lường được và phải mang tính khả thi.
Do đó các mục tiêu này phải được đặt ra dựa trên cơ sở là tình hình của doanh nghiệp hay nói cách khác là dựa trên kết quả của quá trình nghiên cứu và dự báo môi trường. Đồng thời, cùng với việc đặt ra các mục tiêu thì nhà quản lý cần phải xác định rõ ràng về trách nhiệm, quyền hạn của từng bộ phận trong doanh nghiệp trong việc thực hiện các mục tiêu này. - Xây dựng các phƣơng án thực hiện mục tiêu Căn cứ vào các mục tiêu đã đề ra, dựa trên cơ sở tình hình hoạt động của doanh nghiệp, các nhà quản lý xây dựng các phương án để thực hiện các mục tiêu này. Các phương án phải được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và chỉ những phương án triển vọng nhất mới được đưa ra phân tích.
- Đánh giá các phƣơng án Các nhà quản lý tiến hành phân tích, tính toán các chỉ tiêu tài chính của từng phương án để có thể so sánh, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của từng phương án cũng như khả năng hiện thực hoá như thế nào, tiềm năng phát triển đến đâu để từ đó có hướng giải quyết. - Lựa chọn phƣơng án tối ƣu Sau khi đánh giá các phương án, phương án tối ưu sẽ được lựa chọn. Phương án này sẽ được phổ biến tới những cá nhân, bộ phận có thẩm quyền và tiến hành phân bổ nguồn nhân lực và tài lực cho việc thực hiện kế hoạch. Phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính là một tập hợp các phương pháp và công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của Số hóa bởi Trung tâm Họ c liệ u – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp.
Phương pháp phân tích: Có một hệ thống các công cụ và phương pháp mà người phân tích sử dụng trong quá trình phân tích tài chính, trong đó có hai phương pháp phân tích được sử dụng phổ biến nhất là phương pháp so sánh, phân tích tỷ lệ. Phương pháp so sánh: Khi sử dụng phương pháp này cần đảm bảo các điều kiện có thể so sánh được như phải thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất, đơn vị tính… của các chỉ tiêu tài chính. Đồng thời căn cứ theo mục đích nghiên cứu mà xác định gốc so sánh. Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt không gian hoặc thời gian, kỳ phân tích được chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh được sử dụng có thể là số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân.
Phương pháp phân tích tỷ lệ: Phương pháp này yêu cầu các tỷ lệ so sánh chủ yếu theo các tiêu chí cơ bản, xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Quản lý TSCĐ, vốn cố định và tài sản dài hạn, vốn dài hạn của DN * Tài sản cố định là những tư liệu lao động được sử dụng trong một thời gian luân chuyển dài và có giá trị lớn, thường là có thời gian sử dụng trên một năm và có giá trị đơn vị tối thiểu phụ thuộc vào quy định của Bộ tài chính trong từng thời kỳ. * Vốn cố định: Để có được các TSCĐ sử dụng trong kinh doanh các doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng vốn tiền tệ nhất định. Số tiền tương ứng doanh nghiệp phải bỏ ra để đầu tư vào TSCĐ được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp.
Quy mô TSCĐ dùng cho hoạt động của doanh nghiệp lớn hay nhỏ sẽ quyết định đến quy mô số vốn cố định của doanh nghiệp. Việc quản lý vốn cố định, bảo toàn và phát triển vốn cố định của doanh nghiệp phải gắn liền với việc quản lý, sử dụng TSCĐ có hiệu quả. Số hóa bởi Trung tâm Họ c liệ u – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 * Tài sản dài hạn và vốn dài hạn: Bên cạnh khoản đầu tư vào TSCĐ, các khoản đầu tư xây dựng cơ bản dở dang doanh nghiệp còn sử dụng vốn để đầu tư dài hạn ra bên ngoài nhằm tìm kiếm, bổ sung lợi nhuận và san sẻ rủi ro trong kinh doanh. Khoản đầu tư này được gọi là đầu tư tài chính dài hạn.