LỜI MỞ ĐẦU Quản lý có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động của mọi tổ chức, nó đã được nghiên cứu và phát triển lên thành môn khoa học – khoa học quản lý. Một tổ chức hoạt động hiệu quả khi công tác quản lý ở đó được coi trọng và thực hiện tốt. Nhưng hoạt động quản lý chỉ có hiệu quả khi nó tuân thủ một cách đầy đủ, triệt để những nguyên tắc của quản lý và được tiến hành theo những phương pháp khoa học, phù hợp với điều kiện của tổ chức đó. Uỷ ban nhân dân ( UBND) huyện Đông Anh là một tổ chức - một cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền chung chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về mọi mặt trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Trong xu thế phát triển và hội nhập hiện nay cùng với quá trình đô thị hoá diễn ra vô cùng nhanh chóng trên địa bàn thành phố nói chung và huyện Đông Anh nói riêng thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước của cơ quan UBND huyện là một yêu cầu tất yếu. Xuất phát từ điều kiện đó, tác giả có mong muốn ứng dụng những kiến thức của khoa học quản lý và các môn khoa học khác để phân tích, xây dựng những giải pháp, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan UBND huyện, nơi tác giả đang công tác. Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp là : “ Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước tại UBND huyện Đông Anh” Luận văn được chia ra làm 3 phần: Phần I. Những vấn đề lý luận về quản lý.
Phân tích hiệu quả hoạt động và cơ chế quản lý tại UBND huyện Đông Anh. Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước tại UBND huyện Đông Anh. LVTS: Phạm Văn Đức -2- Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm…. Tác giả xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn PGS.TS Phan Thị Ngọc Thuận – giáo viên khoa Kinh tế và Quản lý trường Đại học Bách khoa Hà Nội cùng toàn thể lãnh đạo, chuyên viên UBND huyện Đông Anh đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện luận văn này.
Mặc dù đã hết sức cố gắng, song do kiến thức còn hạn hẹp chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết và sai sót, tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo và góp ý của các thầy cô giáo và đồng nghiệp. Tác giả LVTS: Phạm Văn Đức -3- Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm…. PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LVTS: Phạm Văn Đức -4- Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm….1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Các khái niệm cơ bản về quản lý Hiện nay có nhiều khái niệm về quản lý khác nhau. Mỗi một khái niệm về quản lý biểu đạt, thể hiện một cách hiểu về quản lý khác nhau theo những cách tiếp cận riêng.
Tác giả có thể kể ra đây một số khái niệm thường hay được đề cập tới: Quản lý là sự tác động đến con người, tập thể con người để họ làm những gì có lợi. Với mục tiêu vì con người, do con người. Quản lý là nghiên cứu và đề ra các phương án thực thi một cách khoa học. Để quản lý tốt nhất thiết phải có sự hiểu biết sâu sắc về con người và về cách thức, công nghệ tác động đến con người.
Một khái niệm khác cho rằng: Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người thừa hành. Với khái niệm này ta có thể hiểu quản lý là làm việc. Những công việc mà nhà quản lý làm có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp như lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm tra. Các công việc mà nhà quản lý làm đều là những công việc tổng hợp và phức tạp.
Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ sản xuất cụ thể để các yếu tố thuộc sức sản xuất ra đời và phát triển. Tuy nhiên, đối với tác giả lại tâm đắc và thấy khái niệm về quản lý sau mang tính tổng quát và khoa học hơn cả. Quản lý là sự tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo các mục tiêu đã định của tổ chức. LVTS: Phạm Văn Đức -5- Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm….
Có thể thấy quản lý là phương thức làm cho những hoạt động hoàn thành với hiệu quả cao, bằng và thông qua những người khác. Nó là những hoạt động có hướng đích của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức. Để hiểu rõ về quản lý ta cần phải làm rõ một số điểm trong khái niệm về quản lý trên. * Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý.
Chủ thể quản lý luôn là con người hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo các nguyên tắc nhất định. * Đối tượng quản lý: là thành phần tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia ra các dạng quản lý khác nhau.
* Tổ chức: Tổ chức là một hệ thống, một thực thể có từ hai thành viên trở lên, có cơ cấu, có tính hệ thống và trong tổ chức có những thành viên.2 Sự cần thiết của quản lý Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau thành tập thể, thành tổ chức. Bởi vì nếu không có những hoạt động đó, mọi người trong tập thể sẽ không biết ai phải làm gì, làm vào lúc nào hoặc sẽ làm một cách lộn xộn. Khi con người hợp tác với nhau trong một tập thể để cùng nhau làm việc, người ta có thể tự phát làm những việc cần làm theo cách suy nghĩ riêng của mỗi người. Lối làm việc chung như thế cũng có thể đạt kết quả hoặc cũng có thể không.
Nhưng nếu biết tổ chức hoạt động, có người đứng ra quả lý, điều hành hoạt động chung thì triển vọng đạt kết quả sẽ chắc chắn hơn. Không những như vậy, sẽ còn ít tốn kém nguyên vật liệu, tiền bạc, thời gian hơn. Bởi vì khi có sự quản lý thì sẽ có những cách thức thực thi công việc khoa học. LVTS: Phạm Văn Đức -6- Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm….
Khi so sánh giữa kết qủa đạt được với chi phí đã tốn kém để đạt được kết quả đó ta có khái niệm hiệu quả. Tỷ số này càng lớn thì chỉ tiêu hiệu quả càng cao. Nếu ta không biết cách quản lý thì cũng không thể đạt kết quả như tổ chức kinh tế khác nhưng chi phí lại cao hơn hoặc chi phí như vậy nhưng kết quả thấp hơn. Như thế có nghĩa là hiệu quả kinh tế cả hai trường hợp đều thấp hơn khi so sánh giữa các tổ chức khác nhau.
Trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là trong nền kinh tế có sự cạnh tranh gay gắt, người ta luôn phải tìm cách giảm chi phí và tăng kết quả tức là phải luôn tìm cách gia tăng hiệu quả. Lý do tồn tại của hoạt động quản lý chính là vì muốn có hiệu quả và chỉ khi nào quan tâm đến hiệu quả thì người ta mới quan tâm đến hoạt động quản lý.3 Khái niệm hiệu quả Trong hoạt động sản xuất kinh doanh hay quản lý nhà nước chúng ta thường hay đề cập đến hiệu quả kinh tế hay hiệu quả quản lý. Vậy hiệu quả là gì? Hiệu quả là sự tương quan, so sánh kết quả, lợi ích thu được với những chi phí bỏ ra để có được các kết quả, lợi ích đó. Như vậy, muốn phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động của một đơn vị, tổ chức nào chúng ta cần phải xác định được kết quả hoạt động của nó và toàn bộ chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó.
Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh thì có hiệu quả kinh tế. Đối với các đơn vị hành chính nhà nước thì có hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước… Hiệu quả hoạt động quản lý phụ thuộc vào trình độ, năng lực của người quản lý. Trình độ quản lý lại được nhận biết, đánh giá thông qua hiệu lực quản lý. Hiệu lực quản lý lại được nhận biết, đánh giá thông qua chất lượng của các quyết định, biện pháp quản lý.
LVTS: Phạm Văn Đức -7- Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm…. Để đo lường hiệu quả, ta có hai loại chỉ tiêu đó là: chỉ tiêu định lượng, chỉ tiêu định tính. * Chỉ tiêu định lượng: là những chỉ tiêu mà ta có thể tính toán, đo đếm được. Ví dụ : Sản lượng, doanh thu, số lao động… * Chỉ tiêu định tính: là những chỉ tiêu mà ta không thể đo đếm được bằng số liệu cụ thể.
Ví dụ như : sự thoải mái của khách hàng đối với sản phẩm, lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của chính quyền địa phương, sự ổn định chính trị… 1.2 Các nguyên tắc tổ chức quản lý Trong hoạt động quản lý có các nguyên tắc tổ chức quản lý mà đòi hỏi nhà quản lý, nhà tổ chức phải tuân theo. Để đảm bảo quản lý có hiệu quả, tổ chức và nhà quản trị phải tuân thủ một cách đầy đủ và triệt để các nguyên tắc này.1 Nguyên tắc thống nhất điều khiển Nguyên tắc thống nhất điều khiển cho rằng sự lãnh đạo trong tổ chức phải có sự thống nhất từ trên xuống dưới, theo tuyến thẳng. Theo nguyên tắc này thì mỗi một nhân viên, mỗi một người thừa hành chỉ nhận lệnh và chịu sự chỉ đạo từ một cấp trên trực tiếp. Nếu không tuân thủ nguyên tắc này, người đó sẽ gặp phải những yêu cầu mâu thuẫn nhau hoặc cùng một lúc có nhiều mệnh lệnh của cấp trên sẽ giội xuống làm cho cấp dưới không biết làm thế nào, nhận lệnh của ai.
Tuân thủ nguyên tắc này, chúng ta sẽ loại bỏ được tình trạng vô trách nhiệm. Mọi chính sách, quy định trong cơ quan đều cần được thông báo đến các bộ phận có liên quan. Nhưng không phải lúc nào những quy định, nguyên tắc đó đều được tất cả mọi người đồng tình.