phần mở đầu, phần kết luận, phần khuyến nghị, phần phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có ba chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan về bảo hộ quyền SHCN đối với NH, TTM và QLNN trong bảo hộ quyền SHCN đối với NH, TTM Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả QLNN trong bảo hộ quyền SHCN đối với NH và TTM tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN trong bảo hộ quyền SHCN đối với NH và TTM tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu. 10 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ BẢO HỘ QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU, TÊN THƢƠNG MẠI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC TRONG BẢO HỘ QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU, TÊN THƢƠNG MẠI 1. Tổng qu n về bảo hộ qu ền SHCN đối với Nhãn hiệu và Tên thƣơng mại 1. Khái niệm quyền SHCN Quyền SHCN là một bộ phận cấu thành một khái niệm có nội hàm rộng hơn, đó là quyền SHTT. Do vậy, trƣớc khi đi vào nghiên cứu nội dung quyền SHCN, cần hiểu quyền SHTT là gì.
SHTT là một thuật ngữ đƣợc cấu tạo bởi hai cụm từ là cụm từ “sở hữu” và cụm từ “trí tuệ”. “Sở hữu” là khái niệm dùng để chỉ sự chiếm hữu của con ngƣời đối với tài sản. Sự chiếm hữu nhƣ vậy xuất hiện trong quá trình con ngƣời lao động sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. “Trí tuệ” là thuật ngữ chỉ “khả năn nhận thức lý tính của con n ười đạt đến một trình độ nhất định” [24; 1280], về một sự vật hay hiện tƣợng nào đó.
Tài sản trí tuệ là kết quả nghiên cứu thông qua hoạt động lao động sáng tạo của con ngƣời và đem lại cho ngƣời sáng tạo những lợi ích thiết thực. Tài sản trí tuệ là tài sản vô hình. Chúng bộc lộ ra bên ngoài dƣới một hình thức khách quan nhất định nhƣng bản thân chúng không phải là vật chất mà là sản phẩm của sáng tạo. Từ phân tích ở trên có thể kết luận SHTT là sở hữu tri thức, sở hữu những sản phẩm sáng tạo của bộ óc con ngƣời hay SHTT là việc chiếm hữu, sử dụng và hƣởng thụ lợi ích có đƣợc từ các sản phẩm sáng tạo đó.
Quyền SHTT là tập hợp các quy phạm pháp luật đƣợc ban hành nhằm xác lập, ghi nhận, củng cố và bảo vệ các quan hệ SHTT trong xã hội. Theo từ điển tiếng Việt năm 2008, khái niệm quyền SHTT đƣợc hiểu là “qu ền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ” [24; 1076]. 11 Quyền SHTT dễ bị xâm phạm hơn bất kỳ quyền sở hữu tài sản nào. Những sản phẩm sáng tạo của trí tuệ một khi đã đƣợc bộc lộ công khai sẽ dễ dàng đƣợc phổ biến và bị khai thác giá trị kinh tế thông qua hệ thống thông tin của một quốc gia, của một khu vực, của các tổ chức quốc tế.
Việc xâm phạm quyền SHTT ngày càng phát triển và đã vƣợt ra ngoài phạm vi quốc gia, ngoài khả năng kiểm soát của chủ sở hữu và quan trọng hơn cả là khó có thể ngăn chặn nếu không có những cơ chế bảo hộ hữu hiệu. Quyền SHTT đƣợc ghi nhận và bảo hộ ở một quốc gia thì không có nghĩa là sẽ đƣợc bảo hộ ở các quốc gia khác. Việc xâm phạm có thể diễn ra ngay trƣớc mắt chủ sở hữu tại quốc gia khác mà không hề bị coi là phạm pháp. Bảo hộ quyền SHCN Bảo hộ quyền SHCN là việc Nhà nƣớc ban hành các quy định pháp luật về quyền SHCN nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền SHCN nhƣ chủ văn bằng bảo hộ và những chủ thể khác liên quan đến việc sử dụng quyền SHCN.
Nhà nƣớc tổ chức cơ quan xác lập quyền, quy định thủ tục, trình tự để xác lập quyền SHCN cho các đối tƣợng SHCN phải đăng ký. Muốn đƣợc bảo hộ quyền SHCN, chủ thể phải nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ tại Cục SHTT. Đối tƣợng bảo hộ quyền SHCN bao gồm quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, NH, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, TTM, chỉ dẫn địa lý. Ngƣời nào sử dụng các đối tƣợng SHCN của ngƣời khác đang trong thời gian bảo hộ mà không xin phép chủ sở hữu các đối tƣợng này thì bị coi là xâm phạm quyền SHCN (trừ các trƣờng hợp có quy định riêng) và tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bảo vệ quyền SHCN là để bảo vệ pháp chế, là bảo đảm sự chấp hành các luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực SHCN. Hoạt động bảo vệ quyền SHCN nhằm đảm bảo cho các nội dung của quy phạm pháp luật về SHCN đƣợc thi hành nghiêm chỉnh, có hiệu lực, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nƣớc, của xã hội và của chủ văn bằng. 12 Các đối tƣợng SHCN đang đƣợc bảo hộ là tài sản của doanh nghiệp, của cá nhân đƣợc pháp luật thừa nhận. Tổng quan về bảo hộ quyền SHCN đối với Nhãn hiệu 1.
Khái quát Nhãn hiệu NH đã xuất hiện từ thời cổ đại, phát hiện của các nhà khảo cổ hiện đại cho thấy cách đây 3000 năm, những ngƣời thợ thủ công Ấn Độ đã từng chạm khắc chữ ký của mình trên các tác phẩm nghệ thuật trƣớc khi gửi hàng tới Iran. Nhờ sự hƣng thịnh của hoạt động giao thƣơng mà việc sử dụng các dấu hiệu đó trên hàng hóa tƣơng đối phát triển. Ban đầu, NH không hoàn toàn thực hiện chức năng phân biệt mà việc sử dụng chúng chỉ để chỉ ra mối liên hệ giữa hàng hóa với nhà sản xuất ra hàng hóa, giữa tài sản với chủ sở hữu của tài sản mà thôi. Cũng chính bởi lẽ đó, ở thời kỳ đầu tầm quan trọng về mặt kinh tế của NH vẫn còn hạn chế.
Sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa kéo theo sự phát triển của hoạt động thƣơng mại và buôn bán hàng hóa đã khiến cho NH ngày càng đóng vai trò quan trọng trong giao lƣu kinh tế. Việc một hàng hóa có thể đƣợc cung cấp bởi nhiều nhà sản xuất hoặc nhà kinh doanh khác nhau khiến cho ngƣời tiêu dùng bối rối khi lựa chọn, họ cần có một dấu hiệu chỉ dẫn để nhận biết hàng hóa của từng nhà sản xuất hoặc kinh doanh. NH chính là dấu hiệu giúp họ phân biệt đƣợc nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm. Xã hội hiện đại với sự phát triển nhƣ vũ bão của KH&CN trong nền kinh tế thị trƣờng đem lại cho con ngƣời cơ hội đƣợc sử dụng rất nhiều sản phẩm hàng hóa khác nhau.
Ngoài việc nhận biết qua hình thức, giá cả, chất lƣợng của sản phẩm thì một dấu hiệu đặc trƣng riêng của nhà sản xuất hoặc kinh doanh sẽ giúp cho ngƣời tiêu dùng dễ dàng lựa chọn sản phẩm cạnh tranh phù hợp với mình. Luật SHTT 2005 có phân ra nhiều loại NH khác nhau dựa trên những tiêu chí khác nhƣ đối tƣợng mang NH, chức năng phân biệt chủ thể sở hữu NH, mức độ nổi tiếng… Dựa vào đối tƣợng mang NH, NH đƣợc chia thành NH dùng cho hàng hóa và NH dùng cho dịch vụ: 13 - NH dùng cho hàng hóa là các NH đƣợc sử dụng gắn trên các hàng hóa nhất định dùng để phân biệt hàng hóa của các chủ thể kinh doanh khác nhau. Hàng hóa ở đây là những sản phẩm của tự nhiên hay là kết quả quá trình lao động của con ngƣời thể hiện dƣới dạng tài sản hữu hình - NH dùng cho dịch vụ là dấu hiệu giúp ngƣời sử dụng dịch vụ nhận biết đƣợc các nhà cung cấp dịch vụ. NH dịch vụ thông thƣờng đƣợc gắn trên bảng hiệu, giấy tờ giao dịch, quảng cáo… Dựa vào chức năng phân biệt chủ thể sở hữu NH, NH đƣợc chia thành NH tập thể và NH thuộc sở hữu riêng: “Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùn để phân biệt hàn hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàn hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân khôn phải là thành viên của tổ chức đó” [19; điều 4], chủ sở hữu NH tập thể không phải là đối tƣợng trực tiếp sử dụng NH mà các thành viên của tập thể không phải là chủ sở hữu NH – là đối tƣợng sử dụng NH.
NH nói chung thực hiện chức năng chỉ dẫn về nguồn gốc riêng rẽ của ngƣời sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang NH đó. Trái lại, NH tập thể không thực hiện chức năng chỉ dẫn nguồn gốc riêng rẽ đó mà chỉ dẫn tƣ cách thành viên của ngƣời sử NH thuộc về tổ chức là chủ sở hữu NH tập thể. Việc định nghĩa NH tập thể theo chức năng phân biệt tƣ cách thành viên của một tổ chức tập thể với các đối tƣợng không phải là thành viên của tổ chức tập thể đó đã thể hiện đƣợc đúng bản chất của NH tập thể, khắc phục đƣợc nhầm lẫn về quan niệm đồng sở hữu NH. - NH thuộc sở hữu riêng: hầu hết các loại NH đƣợc sử dụng phổ biến hiện nay là NH thuộc sở hữu riêng của một cá nhân hoặc một tổ chức, dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, tổ chức đó với hàng hóa, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức khác.
Các NH loại này có đặc điểm là do một chủ thể làm chủ sở hữu. Dựa vào mức độ nổi tiếng thì có NH nổi tiếng và NH đƣợc sử dụng và thừa nhận rộng rãi: 14 - NH nổi tiếng là “Nhãn hiệu được n ười tiêu dùn biết đến rộn rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” [19; điều 4], các điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam tham gia nhƣ Hiệp định TRIPS, Công ƣớc Paris, chỉ quy định các nƣớc thành viên có nghĩa vụ phải bảo hộ NH nổi tiếng còn dành lại cho các nƣớc này quyền đƣa ra bộ tiêu chí đánh giá NH nổi tiếng. Tổ chức SHTT thế giới có ban hành Khuyến nghị chung về bảo hộ NH nổi tiếng và nội dung quy định này trong Luật SHTT 2005 về cơ bản phù hợp với nội dung tƣơng ứng trong Khuyến nghị chung đó. Việc đƣa giới hạn lãnh thổ mà ngƣời tiêu dùng nhận biết một NH nổi tiếng vào trong luật là một điều hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc bảo hộ SHTT và thể hiện tinh thần bảo vệ quyền lợi quốc gia khi xây dựng luật.