Chương I: Co so lý luận và thực tiễn về quản lý chống hàng giả Chương II: 7c rạng công tác quản lý chống hàng giả tại Chỉ cục OLTT tỉnh Bắc Giang Chương II: Giới pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác quản lý chống hàng giả của Chỉ cục QLTT tỉnh Bắc Giang. CHUONG1 CO SO LY LUAN VA THUC TIEN VE QUAN LY CHONG HANG GIA 1. Khai quat chung vé hang gia 1. Khai niém hang gia Khái niệm về hàng giả theo quy định tại khoản 8 Điều 3, Nghị định 185/2013/NĐ-CP: khoản 3 Điều 1, Nghị định 124/2015/NĐ-CP của Chính phủ gom: - Hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng: có giá trỊ sử dụng, công dụng không đúng với nguôn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; - Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản tạo nên gia tri sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người, vật nuôi không có dược chất; co dược chất nhưng không đúng với hàm lượng đã đăng ký: không đủ loại dược chất đã đăng ký: có dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng: không đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; - Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả mạo tên thương nhân, địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại hoặc tên thương phẩm hàng hóa; gia mao ma số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của thương nhân khác.
- Hàng hóa có nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo về nguồn gôc hàng hóa, nơi sản xuât, đóng gói, lắp ráp hàng hóa; - Hang hoa gia mao về SHTT quy định tại Điều 213 Luật SHTT năm 2005 ; - Tem, nhãn, bao bì giả. Theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Nghị định 185/2013/NĐ-CP và Điều 213 Luật SHTT 2005 hướng dẫn và quy định cụ thể hơn cho khoản 8 Điều 3 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP. Khoản 9 Điều 3 Nghị định 185/2013/NĐ-CP xác định: Tem, nhãn, bao bì giả “sôm đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, các loại tem chất lượng, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác của cá nhân, tổ chức kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên và địa chỉ của thương nhân khác; giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm hàng hóa, mã số đăng ký lưu hành, mã vạch hoặc bao bì hàng hóa của thương nhân khác”. Điều 213 Luật SHTT 2005: - Hàng hoá giả mạo về SHTT theo quy định của Luật này bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu) quy định tại khoản 2 Điều này và hàng hoá sao chép lậu quy định tại khoản 3 Điều này; - Hàng hoá giả mạo nhãn hiệu là hàng hoá, bao bì của hàng hoá có gắn nhãn hiệu.
dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn dia ly; - Hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyên liên quan. Phân loại hàng giả Theo định nghĩa của Cục Quản lý thị trường, Bộ Công thương, hàng giả có bốn loại: (1) giả về chất lượng và công dụng, (2) giả mạo nhãn hiệu hàng hóa, bao bì hàng hóa, (3) giả mạo về SHTT và (4) các loại tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả. Cụ thể là: - Hàng giả chất lượng và công dụng là hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của hàng hóa; - Hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa là hàng hóa giả mạo tên, địa chỉ của thương nhân khác trên nhãn hoặc bao bì cùng loại hàng hóa hoặc giả mạo chỉ dẫn về nguôn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa trên nhãn hoặc bao bì hàng hóa; - Giả mạo về SHTT là hàng hóa, bao bì hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dâu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu, của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyên tác giả hoặc quyên liên quan; - Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả gồm các loại đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, tem chất lượng, tem chống giả, phiếu bảo hành, niêm mang co hàng hóa có nội dung giả mạo tên, địa chỉ thương nhân, nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa. Bản chất của sản xuất và buôn bán hàng giả Bản chất của sản xuất và buôn bán hàng giả là hành vi cướp đoạt giá trị vật chat và tinh thân của người khác, lừa đôi người tiêu dùng để thu lợi bất chính.
Hàng giả là loại hàng hóa kém chất lượng, thậm chí có những loại hàng giả có độc tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sinh mạng của người tiêu dùng. Chính vì vậy số tiền mà người tiêu dùng bỏ ra và giá trị sử dụng, công dụng của hàng giả không tương xứng với nhau. Giá trị sử dụng, công dụng của hàng giả bao giờ cũng kém hơn hàng thật. Để cướp đoạt được giá trị vật chất và giá trị tính thần của người khác, các đối tượng sản xuất, kinh doanh hang giả dùng mọi thủ đoạn tinh vi để chốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của lực lượng chức năng, lừa dối che mắt người tiêu dùng để thu lợi bất chính.
Chúng chủ yếu dựa vảo sự thiếu hiểu biết của khách hàng, đặc biệt đánh vào tâm lý thích dùng hàng hiệu giá rẻ của một số khách hàng để lừa dối, gây thiệt hại về kinh tế của người tiêu dùng. Nguyên nhân xuất hiện hàng giả Thứ nhất, hàng giả ton tai trong mọi lĩnh vực, là một tệ nạn xã hội, gây tác hại to lớn đến sản xuất trong nước, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích người tiêu dùng. Song, một trong những nguyên nhân chủ yếu là từ phía người sản xuất. Họ tìm mọi cach thay thé vat liéu dom, ré tiền để sản xuất hang hoa voi chi phi thap ma van ban được giá cao, thu lợi nhuận nhiêu.
Thứ hai, sự nhận biết về hàng thật, hàng giả của người tiêu dùng còn hạn chê. Trong khi đó, việc quản lý nhãn mác của các cơ sở sản xuất chính hiệu, sản phẩm, địch vụ có uy tín còn lỏng lẻo. Thứ ba, là một bộ phận người tiêu dùng có tâm lý dễ chấp nhận hàng giả do giá rẻ, phù hợp với thu nhập thì họ mua về để dùng. Thứ tư, là chúng ta chưa làm tốt công tác tuyên truyền và cung cấp những kiến thức cơ bản về chất lượng hàng hoá, tình hình sản xuất và buôn bán hàng giả để người tiêu dùng nhận biết và tham gia đầu tranh phòng ngừa.
Thứ năm, là hàng hoá sản xuất trong nước tuy đã có nhiều cố gắng trong việc cải tiễn chất lượng, mẫu mã, song sức cạnh tranh yếu, chưa theo kịp khu vực và thế giới. Mặt khác, giữa các địa phương trong nước, giữa thành thị và nông thôn cũng có sự phát triển không đồng đêu. Một số bộ phận người sản xuất ít vốn không có kỹ thuật đã phản ứng tiêu cực, sản xuất hàng giả nhãn mác, thương hiệu hàng hoá của các cơ sở khác nhằm duy trì sự tổn tại của họ. Thứ sáu, là do tình trạng thất nghiệp, thiếu công ăn việc làm, thiếu hiểu biết của một số ít người dân, ham lợi ích trước mắt mà quên đi tác hại lâu dài đã dẫn đến con đường sản xuất và buôn bán hàng giả.
Trong khi đó, thu nhập của nhân dân, nhất là nông dân và tầng lớp người lao động nghèo còn quá thấp, không có điều kiện tiêu dùng các loại hàng hoá chính hãng có chất lượng nhưng giá cao, nên buộc phải chấp nhận hàng giả, kém phẩm chất có giá rẻ. Thứ bảy, là các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp quản lý mẫu mã bao bì còn sơ hở, chậm cải tiễn và đối mới, dễ bị làm nhái. Một số cán bộ công nhân viên là các đối tượng trong đường dây tổ chức sản xuất và buôn bán hàng giả của chính doanh nghiệp đó. Giá sản phẩm của các doanh nghiệp còn cao, chưa phục vụ đại đa sô người tiêu dùng.
Thứ tám, là chính quyền các cấp và các cơ quan chức năng chưa thực sự quan tâm đúng mức, chưa coi vấn đề sản xuất và buôn bán hàng giả là nghiêm trọng cần phải chặn đứng, đây lùi. 10 Thứ chín, là việc phối hợp đấu tranh giữa các ngành, các lực lượng chức năng chưa đồng bộ, chưa có sự thống nhất cao, đông thời công tác giám định chưa đáp ứng yêu cầu đâu tranh chống tội phạm. Kinh phí cho công tác đâu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả còn rất hạn chế, thời gian giám định dài, gây khó khăn cho công tác kiểm tra, xử lý. Các thủ đoạn sản xuất, buôn bán hang gia 1.
Các bước sản xuất, buôn bún hang giả Thông thường, việc sản xuất và buôn bán hàng giả của các đối tượng trong thời gian qua đều diễn ra qua 04 bước: Bước 1: Giai đoạn tìm kiếm thị trường, nghiên cứu nhu cầu thị hiểu của người tiêu dùng và khả năng cung cấp loại mặt hàng của các doanh nghiệp. Bước 2: Giai đoạn tìm kiếm nguyên liệu, phương thức, phương tiện để sản xuất (tem, nhãn, mẫu mã, bao bì, máy móc, phương tiện, địa điểm sản xuất). Bước 3: Giai đoạn tiên hành sản xuất hàng giả. Bước 4: Giai đoạn tiêu thụ sản phẩm làm ra.
Ở giai đoạn này, vì mục đích vụ lợi, chúng sẵn sảng tìm kiếm mọi phương thức khác nhau để bán được hàng nhiều nhất, nhanh nhất. Tuỳ theo chủng loại hàng hóa khác nhau, chúng có thé ban cho đại lý hay người buôn bán nhỏ.