Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CÂY LÚA NẾP 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa 1. Một số khái niệm - Khái niệm về hiệu quả: Hiệu quả (efficiency) là mối quan hệ giữa các đầu vào nhân tố khan hiếm (như lao động, vốn, máy móc.) và sản lượng hàng hóa và dịch vụ. Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội.
Hiểu theo nghĩa rộng, hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra hững kết quả đầu ra đó (Nguyễn Văn Ngọc, 2018 ). Hiệu quả kinh tế: Khi đề cập đến hiệu quả đất đai, sản xuất, lao động, vốn…, thông thường chúng ta hay nói đến hiệu quả kinh tế của việc sử dụng nguồn lực đó. Vậy nên hiểu hiệu quả kinh tế như thế nào cho đúng. Về hiệu quả sản xuất nông nghiệp đã được nhiều tác giả bàn đến như Farrell (1957), Schultz (1964), Rizzo (1979) và Ellis (1993).
Các học giả trên đều đi đến thống nhất là cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản về hiệu quả: Là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ. Cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất. Hiệu quả kinh tế được xác định trong mối quan hệ so sánh giữa giá trị sản phẩm thu được cao hơn so với chi phí đầu vào thấp hơn. Nếu đạt được một trong hai yếu tố là hiệu quả phân bổ hay hiệu quả kĩ thuật mới là điều kiện cần chứ chưa phải điều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh tế (Phạm Văn Đình và Đỗ Kim Chung, 1997).
Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó việc sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế thể hiện mục đích của người sản xuất là làm cho lợi nhuận tối đa. Ý nghĩa của nâng cao hiệu quả kinh tế Nâng cao hiệu quả kinh tế là cơ hội để tăng được lợi nhuận từ đó làm cơ sở để sản xuất tích lũy vốn và tiếp tục đầu tư tái sản xuất mở rộng. Nâng cao hiệu quả kinh tế sẽ làm thu nhập của người lao động ngày càng được cải thiện.
Đây chính là cái gốc để giải quyết mọi việc. Nâng cao hiệu quả kinh tế là tất yếu của sự phát triển toàn xã hội, tuy nhiên ở địa vị khác nhua thì có những quan điểm khác nhau. Đối với người sản xuất thì tăng hiệu quả chính là giúp họ tăng lợi nhuận, đối với người tiêu dùng thì tăng hiệu quả chính là việc họ được sử dụng những sản phẩm hàng hóa với giá thành ngày càng hạ và ngày càng được tốt hơn. Nâng cao hiệu quả sẽ là cho toàn xã hội có thuận lợi hơn, lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng ngày càng được tăng lên.
Như vậy, nâng cao hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu hiệu quả sản xuất nông nghiệp nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là vấn đề trọng tâm của xã hội, nâng cao hiệu quả giúp xã hội có lợi hơn. Người sản xuất và người tiêu dùng đều có lợi nên họ họ đều quan tâm chú ý. Bản chất và phương pháp xác định hiệu quả kinh tế 1.
Bản chất hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt được cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều này có ý nghĩa cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực. Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt hiệu quả kỹ thuật lẫn hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế. Sự khác nhau trong hiệu quả của các doanh nghiệp có thể là sự khác nhau về kỹ thuật và hiệu của phân bổ.
Hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả mà xã hội đã bỏ ra và kết quả xã hội đã đạt được như tăng thêm việc làm, cải thiện môi trường sinh thái, cải thiện đời sống, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo. Hiệu quả kinh tế xã hội là mối tương quan so sánh 9 giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được trên cả góc độ kinh tế lẫn xã hội, phát triển kinh tế và phát triển xã hội có liên quan mật thiết đến nhau, mục tiêu phát triển kinh tế là phát triển xã hội và ngược lại. Chúng là tiền đề và là phạm trù thống nhất.
Do vậy, khi nói đến hiệu quả kinh tế, chúng ta hiểu trên quan điểm hiệu quả kinh tế xã hội. Qua nội dung trình bày ở trên có thể kết luận rằng thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực, máy móc nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra. Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế Cở sở lý luận: hiệu quả kinh tế xã hội,vừa thể hiện tính lý luận sâu sắc vừa là yêu cầu đặt ra của thực tiễn xã sản xuất. Bản chất của hiệu quả kinh tế là tương quan so sánh tuyệt đối chỉ giới hạn trong phạm vi nhất định.Như vậy để tính được hiệu quả kinh tế phải xác định được kết quả và chi phí bỏ ra Ở mỗi thời điểm, mỗi lĩnh vực khác nhau thì cách nhìn nhận về hiệu quả kinh tế cũng khác nhau do đó có nhiều cách xác định hiệu quả kinh tế, dưới đây là ba cách xác định tiêu biểu về hiệu quả kinh tế *Phương pháp thứ nhất cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bằng cách lấy kết quả thu được chia cho chi phí bỏ ra (dạng thuận) hoặc lấy chi phí bỏ ra chia cho kết quả thu được (dạng nghịch).
Dạng thuận: hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả thu 𝑸 được và chi phí bỏ ra: H= 𝑪 Trong đó: H: hiệu quả kinh tế (lần) Q: kết quả thu được (nghìn đồng, triệu đồng…) C: chi phí bỏ ra (nghìn đồng, triệu đồng…) Công thức này cho biết nếu bỏ ra một đơn vị chi phí sẽ tạ ra bao nhiêu đơn vị kết quả, nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực. Dạng nghịch: hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa chi phí bỏ 𝑪 ra và kết quả thu được: H= 𝑸 10 Trong đó: H: hiệu quả kinh tế (lần) Q: kết quả thu được (nghìn đồng, triệu đồng…) C: chi phí bỏ ra (nghìn đồng, triệu đồng…) Công thức này cho biết để đạt được một đơn vị kết quả cần tiêu tốn bao nhêu đơn vị chi phí. Hai loại chỉ tiêu này mang ý nghĩa khác nhau nhưng có mối liên hệ mật thiết với nhau, cùng được sử dụng để phản ánh hiệu quả kinh tế. Các chỉ tiêu trên còn được gọi là chỉ tiêu toàn phần.
Ưu điểm của phương pháp nà phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực sử dụng đã mang lại bao nhiêu đơn vị kết quả, hoặc một đơn vị kết quả thu được cần phải chi phí ba nhiêu đơn vị nguồn lực. *Phương pháp thứ 2 cho rằng HQKT được đo bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả đó: H=Q–C Trong đó: H: hiệu quả kinh tế (lần) Q: kết quả thu được (nghìn đồng, triệu đồng…) C: chi phí bỏ ra (nghìn đồng, triệu đồng…) Phương pháp này phản ánh quy mô HQKT xong không rõ rệt và chưa phản ánh hết mong muốn của nhà sản xuất kinh doanh, chưa xác định được năng suất lao động xã hội và khả năng cung cấp sản phẩm cho xã hội của các cơ sở sản xuất có lợi nhuận như nhau. *Phương pháp thứ 3: hiệu quả kinh tế được xác định bằng phương pháp hiệu quả cận biên bằng cách so sánh phần giá trị tăng thêm và chi phí tăng thêm. 𝚫𝐐 Dạng thuận: H = 𝚫𝐂 Thể hiện tăng thêm một đơn vị chi phí thì sẽ tăng thêm bao nhiêu đơn vị kết quả.
𝜟𝑪 Dạng nghịch: H = 𝜟𝑸 11 Thể hiện để tăng thêm một đơn vị kết quả cần đầu tư thêm bao nhiêu đơn vị chi phí. Trong đó: H: hiệu quả cận biên (lần) ΔQ: lượng tăng giảm của kết quả (nghìn đồng, triêu đồng…) ΔC: lượng tăng giảm của chi phí (nghìn đồng, triêu đồng…) Phương pháp này sử dụng nghiên cứu đầu tư theo chiều sâu, đầu tư cho tái sản xuất mở rộng. Nó cho biết được một đơn vị đầu tư tăng thêm bao nhiêu đơn vị của kết quả tăng thêm. Hay nói cách khác, để tăng thêm một đơn vị đầu ra cần bổ sung bao nhiêu đơn vị đầu vào.
Tóm lại, các phương pháp xác định HQKT cuối cùng đều chung một mục đích đó là so sánh giữa: - Toàn bộ yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra. - Phần tăng thêm tuyệt đối hoặc tương đối) của yếu tố đầu ra. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất lúa nếp - Tổng giá trị sản xuất (GO): tổng giá trị sản xuất là toàn bộ giá trị của tổng sản phẩm được sản xuất ra trong một năm GO được tính theo công thức sau: GO = ∑Qi*Pi Trong đó: Qi: Lượng sản phẩm loại i được sản xuất ra. Pi: Giá trị sản phẩm loại i.
- Chi phí trung gian (IC): Bao gồm chi phí vật chất và dịch vụ được tiêu dùng trong quá trình sản xuất (không tính khấu hao và chi phí lao động của hộ nông dân). Chi phí trung gian bao gồm: + Chi phí trực tiếp: giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhiên liệu… + Chi phí dịch vụ: các khoản thanh toán với HTX như cày đất, bừa đất… IC được tính theo công thức sau: IC=∑Cj*Pj Trong đó: Cj: Chi phí đầu vào thứ j Pj: Đơn giá đầu vào loại j 12 - Tổng giá trị gia tăng (VA): Là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ do các ngành sản xuất tạo ra trong mọt năm hay một chu kì sản xuất được xác đinh trên cơ sở tổng thu trừ đi khoản chi phí trung gian.