Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về Hiệu quả kinh doanh trong công ty cổ phần Chương 2: Thực trạng Hiệu quả kinh doanh tại công ty Cổ phần Bibica Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần Bibica. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái niệm về công ty cổ phần Theo khoản 1, điều 111 Luật doanh nghiệp 2020, công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp mà trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp chuyển nhượng cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông trong thời hạn 3 năm đầu; Có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty Tóm lại, Công ty cổ phần là một tổ chức kinh tế; được đặt tên riêng, có tài sản và trụ sở giao dịch; được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh.
So sánh với các loại hình doanh nghiệp khác, thì có thể nói công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có khả năng huy động vốn công ty cao và linh hoạt nhất. Bởi, công ty cổ phần không bị không giới hạn số lượng cổ đông góp vốn và được phát hành cổ phần các loại, phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác để huy động vốn. Hơn nữa thủ tục chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần cũng rất dễ dàng, các cổ đông 8 có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình theo quy định của Luật. Các hình thức huy động vốn của công ty cổ phần là: chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu; chào bán cổ phần riêng lẻ; chào bán cổ phần ra công chúng (theo Khoản 2 Điều 123 Luật Doanh nghiệp 2020) 1.
Tổng quan về hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, gắn với cơ chế thị trường, có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh như: lao động, vốn, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu. Nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả. Khi đề cập đến hiệu quả kinh doanh các nhà kinh tế dựa vào từng góc độ xem xét để đưa ra các định nghĩa khác nhau: “Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hệ số giữa kết quả kinh doanh và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”- phản ánh được kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng chi phí.
Tuy nhiên, quan niệm này chưa biểu hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí, chưa phản ánh hết mức độ chặt chẽ mối quan hệ này. Quan điểm thương mại hiệu quả: trong nền kinh tế thị trường mọi hoạt động phải tính đến hiệu quả. Hiệu quả thể hiện quan hệ giữa kết quả và chi phí bỏ ra. Hiệu quả kinh doanh là thước đo để cân nhắc lựa chọn các giải pháp đầu tư, quyết định đầu tư phát triển hay ngừng kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh có phần định tính và định lượng. Các chỉ tiêu định lượng như: lợi nhuận, mức doanh lợi, hiệu qủa sử dụng vốn kinh doanh. Chỉ tiêu hiệu quả định tính như: khả năng cạnh tranh, niềm tin của khách hàng, vị thế của doanh nghiệp. Không đạt được hiệu qủa kinh doanh thì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận không thực hiện được, không có hiệu quả kinh doanh thì doanh nghiệp không thể tồn tại, hoạt động thương mại sẽ bị ngưng trệ.
Bên cạnh đó phải tính đến hiệu quả kinh tế xã hội. Giải quyết vấn đề xã hội của thương mại trong cơ chế thị trường không giản đơn. 9 Ở đây, phải tính đến vấn đề môi sinh, môi trường, sự phát triển đồng đều giữa các vùng, các khu vực. Chính sách kinh tế phải gắn kiền với chính sách xã hội nhất là đối với vùng kinh tế chậm phát triển, vùng cao và vùng sâu.
Suy đến cùng muốn có hiệu quả phải đảm bảo lợi ích vật chất cho các dối tượng tham gia hoạt động thương mại, lợi ích là chất kết dính các hoạt động theo mục đích chung. Nguyên tắc các bên tham gia đều có lợi, ai vi phạm sẽ không thể tổ chức hoạt động kinh doanh thương mại có hiệu quả trước mắt và lâu dài. Tóm lại: “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp thông qua việc so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra trong một khoảng thời gian lao động nhất định”. Mục đích và sự cần thiết của phân tích hiệu quả kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong các tiêu chí quan trọng để các nhà quản lý đánh giá quá trình thực hiện chức năng của mình.
Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không chỉ cho biết việc sản xuất kinh doanh đạt ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản lý phân tích, tìm ra các yếu tố tác động để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả sản xuất kinh doanh và tiết kiệm chi phí nhằm nâng cao hiệu quả. Với tư cách là một tiêu chí đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ được sử dụng ở góc độ tổng hợp, đánh giá chung tình hình sử dụng các nguồn lực trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà còn được sử dụng để đánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào của toàn bộ doanh nghiệp hay từng bộ phận của doanh nghiệp. Ngoài ra, hiệu quả kinh doanh còn là biểu hiện của việc lựa chọn những phương án kinh doanh để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận trong khi nguồn lực có hạn hay tối thiểu hoá chi phí để đạt được một kết quả nhất định. Nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện thiết yếu để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Mục tiêu sau cùng, bao quát và dài hạn của mọi doanh nghiệp kinh doanh trong nền kinh tế thị trường là tối đa hoá lợi 10 nhuận, đây cũng là mục tiêu quan trọng nhất của doanh nghiệp. Vì vậy, không chỉ tạo ra và duy trì khả năng cạnh tranh để tồn tại và phát triển là đủ mà các doanh nghiệp còn mong muốn để có lợi nhuận nhiều nhất và ngày càng cao trong điều kiện có thể. Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp cũng sẽ nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nâng cao hiệu quả kinh doanh là vấn đề đặt ra thường xuyên cho mỗi doanh nghiệp khi kế hoạch hoạt động kinh doanh và khả năng về nguồn lực có những thay đổi.
Sự thay đổi nội dung hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp như thế nào là tuỳ thuộc tác động ảnh hưởng của các yếu tố bên trong thuộc bản thân doanh nghiệp và các yếu tố bên ngoài thuộc môi trường kinh doanh. Trong suốt quá trình hoạt động, các doanh nghiệp luôn luôn phải đối diện với môi trường kinh doanh biến động không ngừng, diễn biến phức tạp và đầy rủi ro bất trắc. Do đó, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới tổ chức bộ máy quản lý, cải tiến các nghiệp vụ kinh doanh, tổ chức tốt mọi nguồn lực trong doanh nghiệp như vật tư, tiền vốn, lao động. tận dụng mọi cơ hội kinh doanh để thực hiện các nghiệp vụ một cách có hiệu quả nhất.
Cơ cấu bộ máy tổ chức của doanh nghiệp và hệ thống phương pháp quản lý của nó phụ thuộc nhiều vào yếu tố thuộc môi trường bên ngoài như nguồn cung ứng hàng hoá, tình hình cung cầu hàng hoá trên thị trường, trình độ phát triển kỹ thuật và công nghệ, tình hình cạnh tranh trên thị trường. Để đáp ứng những đòi hỏi của thị trường các doanh nghiệp phải nâng cao trình độ, đổi mới hoạt động kinh doanh, đổi mới tổ chức, bộ máy quản lý, cải tiến nghiệp vụ kinh doanh, quản lý và sử dụng tốt mọi nguồn lực trong doanh nghiệp. Từ đó cho thấy yêu cầu đẩy mạnh và nâng cao Hiệu quả kinh doanh là vấn đề luôn đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp. Thông qua đó đạt được mục tiêu của doanh nghiệp và đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước 11 Có hai yếu tố để xác định hiệu quả kinh doanh: Thứ nhất là các chi phí nguồn lực: các chi phí bao gồm chi phí về lao động, thiết bị, nguyên vật liệu mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất kinh doanh tạo ra các kết quả tương ứng; các nguồn lực bao gồm lao động, đất đai, tài nguyên, vốn.
Thực chất nguồn lực là toàn bộ các chi phí hiện tại, chi phí tiềm năng, chi phí tương lai sẽ chi ra để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh. Thứ hai là kết quả về lợi ích kinh tế: nguồn lực và chi phí mà doanh nghiệp bỏ vào sản xuất kinh doanh có thể đem lại nhiều loại kết quả khác nhau. Có kết quả phù hợp với mục tiêu kinh doanh, nhưng cũng có kết quả nằm ngoài mục tiêu kinh doanh, thậm chí đi ngược lại mục tiêu này vì vậy kết quả ở đây phải là kết quả hữu ích đối với doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Kết quả đó có thể là con số theo các chỉ tiêu cụ thể như sản lượng hiện vật, giá trị sử dụng, doanh thu, lợi nhuận.
hoặc là kết quả trừu tượng như làm sạch môi trường, nâng cao dân trí. Dựa vào hai yếu tố trên, hiệu quả kinh doanh được xác định là đại lượng so sánh giữa kết quả với chi phí và nguồn lực hay ngược lại.