lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chƣơng với nội dung: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về cho thuê tài chính và hiệu quả kinh doanh trong hoạt động cho thuê tài chính Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Công thƣơng Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh trong hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Công thƣơng Việt Nam. 1 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. Khái niệm về cho thuê tài chính Cho thuê tài chính là phƣơng thức tài trợ tín dụng trung và dài hạn không thể huỷ ngang.
Theo phƣơng thức này, bên cho thuê thƣờng mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của bên đi thuê và nắm quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê, bên đi thuê sử dụng tài sản và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn đã thoả thuận và không đƣợc huỷ hợp đồng trƣớc hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên đi thuê đƣợc chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó tuỳ theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê. Khái niệm thông thƣờng: CTTC là hình thức cho thuê tài sản trung dài hạn, mà trong thời hạn đó ngƣời cho thuê chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho ngƣời đi thuê sử dụng. Ngƣời thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê và có thể đƣợc quyền sở hữu tài sản thuê, hoặc đƣợc quyền mua tài sản thuê, hoặc đƣợc quyền thuê tiếp theo các điều kiện đã đƣợc hai bên thoả thuận.
Về lý thuyết cũng nhƣ thực tiễn, hiện nay có nhiều quan điểm về CTTC. Tuỳ theo góc độ nghiên cứu, hoặc theo qui định của luật pháp của mỗi nƣớc khác nhau thì có các khái niệm khác nhau. Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC) đã đƣa ra 4 tiêu chuẩn. Bất cứ một giao dịch nào thoả mãn một trong bốn tiêu chuẩn này thì đều đƣợc gọi là thuê tài chính [18]: Quyền sở hữu tài sản đƣợc chuyển giao cho ngƣời thuê khi kết thúc hợp đồng.
Hợp đồng có quy định quyền chọn mua tài sản khi kết thúc hợp đồng với giá thấp hơn giá trị tài sản thuê tại thời điểm kết thúc hợp đồng. Thời hạn của hợp đồng chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản. Giá trị hiện tại của toàn bộ tiền thuê tối thiểu do ngƣời thuê trả tiền lớn hơn hoặc bằng giá trị thị trƣờng của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. 2 Trên cơ sở các tiêu chuẩn phân loại của ISAC, mỗi quốc gia đều có quy định cụ thể về tiêu chuẩn nhận biết thuê tài chính phù hợp với điều kiện cụ thể của nƣớc mình.
Tại Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng (TCTD): “CTTC là hoạt động tín dụng trung dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là TCTD với khách hàng thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn cho thuê, các bên không đƣợc đơn phƣơng hủy bỏ hợp đồng”. [17] Theo Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của Chính phủ “Về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC” đƣa ra khái niệm CTTC nhƣ sau: “CTTC là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phƣơng tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê.
Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phƣơng tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn đã đƣợc hai bên thoả thuận. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê đƣợc quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng CTTC. Tổng số tiền thuê một loại tài sản qui định tại hợp đồng CTTC, ít nhất phải tƣơng đƣơng với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng”.
Nghị định 65/2005/ NĐ-CP ngày 19/05/2005 xác định: “ Giao dịch cho thuê tài chính phải thỏa mãn một trong các điều kiện: Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê đƣợc quyền sở hữu tài sản thuê hoăc đƣợc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của hai bên; Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê đƣợc quyền ƣu tiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa, thấp hơn giá thực tế tại thời điểm mua lại; Thời hạn cho thuê của một loại tài sản phải bằng ít nhất 60% thời hạn khấu hao của tài sản thuê; Tổng số tiền thuê của một loại tài sản quy định tại hợp đồng CTTC ít nhất phải tƣơng đƣơng với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng”. 3 So sánh với Luật các tổ chức tín dụng [17], thì trong luật này đã cụ thể hóa là hoạt động cho thuê tài chính là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính. Căn cứ vào định nghĩa và các nghị định trên, có thể hiểu CTTC là một hình thức cho thuê tài sản kèm theo cam kết bán lại tài sản cho thuê khi hợp đồng thuê kết thúc với giá cả đƣợc thoả thuận từ trƣớc. Sự ra đời và phát triển của hoạt động cho thuê tài chính Khái niệm thuê tài sản đối với những ngƣời đi thuê là sự cần thiết khách quan của nền sản xuất xã hội.
ý nghĩa của từ “tài sản” nói chung là vấn đề sử dụng nó chứ không phải là vấn đề sở hữu nó. Chính sử dụng tài sản đó mới tạo ra của cải, vật chất làm cơ sở cho đời sống kinh tế xã hội. Hình thức tài trợ thông qua cho thuê tài sản đã có lịch sử khá lâu đời và diễn ra trong hầu hết mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh, thuộc nhiều khu vực trên thế giới. Từ thời cổ xƣa, các giao dịch thuê tài sản thuộc hình thức thuê kiểu truyền thống (Traditional Lease).
Phƣơng thức giao dịch của hình thức này tƣơng tự nhƣ phƣơng thức thuê vận hành ngày nay và trong suốt một thời gian dài, tính chất giao dịch của hình thức này gần nhƣ không đổi. Tuy nhiên, từ khi xuất hiện phƣơng thức thuê tài chính thì loại hình thức tài trợ này đã có những bƣớc phát triển vƣợt bậc cả về quy mô và phạm vi địa lý. Nhằm đáp ứng những nhu cầu về vốn trung và dài hạn, năm 1952, công ty CTTC độc lập đầu tiên đã đƣợc ra đời ở Hoa Kỳ, do một công ty tƣ nhân tên là United States Leasing Corporation sáng lập. Sau đó nghiệp vụ CTTC phát triển sang châu Âu và đã đƣợc ghi vào luật thuê mua của Pháp (năm 1960) với tên gọi “Credit Bail”.
Đến nay, CTTC đã trở thành một hình thức tài trợ vốn cho kinh doanh khá phổ biến trên khắp thế giới. Cùng với sự phát triển về mặt địa lý, sự phát triển về quy mô tài trợ cũng diễn ra rất nhanh chóng và ngành cho thuê đã chiếm một phần rất quan trọng trong thị trƣờng máy móc, thiết bị và thị trƣờng vốn của nền kinh tế thế giới. 4 Cho tới năm 2007, hoạt động CTTC đƣợc sử dụng tại hơn 80 nƣớc và chủ yếu ở các nƣớc đang phát triển với khối lƣợng dƣ nợ cho thuê trên 500 tỷ USD, tƣơng đƣơng 12,5% đầu tƣ tƣ nhân của thế giới. Hiện nay tại Mỹ, cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ đƣợc sử dụng rộng rãi nhất với số dƣ nợ cho thuê tài chính tăng tƣơng đƣơng khoảng 140 tỷ USD mỗi năm; đáp ứng 1/3 nhu cầu đầu tƣ thiết bị của cả nƣớc Mỹ.
Trong những năm gần đây, doanh thu từ hoạt động cho thuê tài chính trên thế giới đã có nhiều dấu hiện khả thi, trung bình hàng năm ở Hàn Quốc là 17 tỷ USD, ở Thái Lan 2 tỷ USD… Tại Mỹ, ngành cho thuê tài chính chiếm khoảng 25 đến 30% tổng số tiền tài trợ cho các giao dịch mua bán thiết bị hàng năm của các doanh nghiệp. Nguyên nhân chính thúc đẩy các công ty CTTC có những bƣớc phát triển mạnh mẽ, nhất là trong những năm gần đây là do nó là một hình thức tài trợ có tính an toàn cao, tiện lợi và hiệu quả đối với các bên tham gia. Trong quá trình phát triển, hàng loạt các nghiệp vụ tài chính mới ra đời đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và các nghiệp vụ mới này đƣợc các nhà kinh tế gọi là nghiệp vụ ngân hàng hiện đại. Nghiệp vụ mới này bao gồm các loại nghiệp vụ thẻ thanh toán, CTTC, mua nợ, hợp đồng tƣơng lai, nghiệp vụ trao đổi lãi suất và tỷ giá hối đoái… nghiệp vụ CTTC là một nghiệp vụ hiện đại của ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng, đồng thời nó trở thành kênh tín dụng có hiệu quả, đƣợc các doanh nghiệp rất ƣa chuộng, góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy kinh tế phát triển.
Đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với các nƣớc đang phát triển. Tính tới năm 1998, công ty CTTC đã đƣợc thành lập tại hơn 80 nƣớc, trong đó có hơn 50 nƣớc đang phát triển. Đặc điểm của hoạt động cho thuê tài chính Cho thuê tài chính có các đặc điểm cơ bản: - Là một thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên đi thuê. Từ đó phát sinh sự tách rời quyền sở hữu tài sản và quyền sử dụng tài sản, tức là trong thời gian thuê bên cho thuê có quyền sở hữu tài sản, bên đi thuê có quyền sở dụng tài sản.
- Bên đi thuê có nghĩa vụ phải thanh toán tiền thuê cho bên chủ sở hữu trong thời hạn thuê và theo mức đã thỏa thuận. - Sau khi kết thúc thời hạn thuê bên đi thuê phải trả lại tài sản cho bên chủ sở hữu hoặc xử lý theo thỏa thuận hợp đồng hoặc theo ý chí của bên chủ sở hữu.