Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng liên doanh Lào-Việt. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Liên Doanh Lào-Việt. 4 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1-HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Vai trò của Ngân hàng thƣơng mại 1.Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô và tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng. Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất-đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và thanh toán và thực hiện chức năng tài chính nhiều nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Ngân hàng là loại tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp dịch vụ quản lý quỹ cho công chúng Luật tổ chức tín dụng do Quốc hội Việt Nam khoá X thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm 1997, đưa ra khái niệm: Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và hoạt động khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động các loại hình ngân hàng gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác.
Do vậy, Ngân hàng thương mại chỉ là một nhóm trong số các tổ chức tài chính trung gian, người ta gọi chung là “Các định chế tài chính” có chức năng giống nhau là dẫn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Trong các định chế tài chính, Ngân hàng thương mại là định chế có kỳ hạn quan trọng nhất. Một số khái niệm Ngân hàng thương mại 5 khác được nêu ra như sau: Các nhà kinh tế định nghĩa: Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và mở các tài khoản tiền gửi, kể các loại tiền gửi mà dựa vào đó có thể dùng các tờ séc. Theo Luật ngân hàng thương mại của Nước CHDCND Lào ngày 26/12/2006: Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp được thành lập theo Luật này, hoạt động kinh doanh ngân hàng chủ yếu là huy động tiền gửi, cấp tín dụng, mua bán ngoại tệ, cung cấp dịch vụ thanh toán và đầu tư.
Những định nghĩa này cho thấy một số chức năng cơ bản mà các ngân hàng thương mại đảm nhận, phân biệt tương đối với các chức năng của các trung gian tài chính khác. Tóm lại, ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng, được thành lập theo Luật, thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và hoạt động khác có liên quan.Vai trò của Ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Ngân hàng là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu dùng (cá nhân, hộ gia đình) và với hầu hết các cơ quan chính quyền địa phương (thành phố, tỉnh…) Hơn nữa đối với các doanh nghiệp nhỏ ở đia phương, từ người bán rau quả cho tới người kinh doanh ôtô, ngân hàng là tổ chức cung cấp tín dụng cơ bản phục vụ cho việc mua hàng hoá dự trữ hoặc mua ôtô trưng bày. Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hoá và dịch vụ, họ thường sử dụng séc, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử.
Và khi cần thông tin tài chính hay lập kế hoạch tài chính, họ thường tìm đến ngân hàng để nhận được lời tư vấn. Trên thế giới, ngân hàng là loại tổ chức trung gian tài chính cung cấp các khoản tín dụng trả góp cho người tiêu dùng với quy mô lớn nhất. Trong 6 mọi thời kỳ, ngân hàng là một trong những thành viên quan trọng nhất trên thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành để tài trợ cho các công trình công cộng, từ những hội trường, sân bóng, cho đến sân bay và đường cao tốc. Ngân hàng cũng là tổ chức tài chính cung cấp vốn lưu động quan trọng nhất cho các doanh nghiệp.
Và trong thời gian gần đây, ngân hàng đã tăng cường mở rộng cho vay dài hạn đối với các doanh nghiệp để hỗ trợ việc xây dựng nhà máy hay mua sắm máy móc thiết bị. Ngân hàng thực hiện nhiều vai trò mới để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của xã hội, các ngân hàng ngày nay có những vai trò sau: Vai trò trung gian: Chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ gia đình thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh tế và các thành phần khác để đầu tư nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác. Vai trò thanh toán: Thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ (như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và phân phối tiền giấy và tiền đúc). Vai trò người bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán( chẳng hạn phát hành thư tín dụng).
Vai trò đại lý: Thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán (thường được thực hiện tại phòng uỷ thác). Vai trò thực hiện chính sách: Thực hiện các chính sách kinh tế của chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mực tiêu xã hội. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại. Tạo lập nguồn vốn Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh trên những lĩnh vực tiền tệ, cũng như các doanh nghiệp kinh doanh khác.
Việc tạo lập vốn là nhân tố để đáp ứng hoạt động kinh doanh. Cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thương mại bao gồm: 7 a. Vốn của ngân hàng: Vốn điều lệ: Là vốn ban đầu được hình thành khi thành lập doanh nghiệp; Nhà nước cấp nếu là ngân hàng thương mại Nhà nước, hoặc là cổ đông đóng góp khi là ngân hàng thương mại cổ phần. Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành của loại vốn này rất đa dạng tuỳ theo tính chất tài chính năng lực sở hữu của chủ ngâng hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.
Đây là nguồn vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn vốn bổ sung: Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn của chủ theo nhiều phương thức khác nhau tuy thuộc vào điều kiện cụ thể. Nguồn vốn từ lợi nhuận, nguồn vốn bổ sung từ phát hành cổ phần, góp thêm của cổ đông, cấp thêm, nguồn vốn liên doanh liên kết …để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn của chủ do Ngân hàng nhà nước quy định. Nguồn vốn từ các quỹ: quỹ dự phòng tổn thất, quỹ bảo toàn vốn, quỹ thặng dư.
Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần: là các khoản vay trung và dài hạn của ngân hàng thương mại mà có khả năng chuyển đổi thành cổ phần có thể được coi là một bộ phận của vốn chủ sở hữu của ngân hàng do nguồn này có đặc điểm là sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa đất đai, và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn. Huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội. Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và 8 cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.
Nhìn vào bảng cân đối tài sản của ngân hàng thương mại chúng ta thấy rằng nghiệp vụ huy động vốn được phản ánh bên phần tài sản nợ. Do vậy, huy động vốn còn gọi là nghiệp vụ tài sản nợ. Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất, ngày càng cao trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng. Các ngân hàng thương mại tiến hành huy động vốn bằng nhiều hình thức như: Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi, huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá, Huy động vốn từ các tổ chức tín dụng khác và các ngân hàng thương mại khác.
- Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi Huy động vốn qua tài khoản là hình thức huy động vốn cổ điển và mang tính đặc thù riêng có của ngân hàng thương mại. Do vậy, đây cũng là điểm khác biệt giữa ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Do nhu cầu và động thái gửi tiền của khách hàng rất đa dạng và khác nhau nên để thu hút được nhiều khách hàng tiền gửi, ngân hàng thương mại phải thiết kế và phát hành nhiều loại sản phẩm tiền gửi khác nhau. + Tiền gửi thanh toán Là hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại bằng cách mở cho khách hàng tài khoản gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán.
Tài khoản này mở cho đối tượng khách hàng, cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu thực hiện thanh toán qua ngân hàng. + Tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi không kỳ hạn. Đối với với các ngân hàng thương mại Việt Nam huy động vốn tiền gửi không kỳ hạn có 2 hình thức chính: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của dân cư và tiền gửi trên tài khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế- xã hội và cá nhân. 9 Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn được thiết kế dành cho đối tượng khách hàng cá nhân hoặc tổ chức có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi ngân hàng với mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai.
Đối với khách hàng khi chọn lựa hình thức này thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trọng hơn là mục tiêu sinh lợi. Đối với ngân hàng vì loại tiền gửi này khách hàng muốn rút bất cứ lúc nào cũng được nên ngân hàng phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả và khó lên kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng. Do vậy, ngân hàng thường trả lãi rất thấp cho loại tiền gửi này.