Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp Xây dựng. - Chương 2: Thực trạng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nƣớc thuộc Ngành Xây dựng Hà Nội. - Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nƣớc thuộc Ngành Xây dựng Hà Nội. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG.
TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG. Khái niệm chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, có quan hệ chặt chẽ với các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhƣ: Mục tiêu của sản xuất kinh doanh, sử dụng các nguồn lực sản xuất, sử dụng vốn, khả năng sinh lời từ sản xuất kinh doanh…. - Hiệu quả sản xuất kinh doanh nhìn từ góc độ chi phí sản xuất.
Các doanh nghiệp luôn hƣớng tới sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các yếu tố đầu vào của sản xuất: lao động, nguyên vật liệu, tài sản cố định trong sản xuất kinh doanh. Trong điều kiện sản xuất kinh doanh ổn định, năng lực sản xuất không đổi thì biến động của chi phí sản xuất ảnh hƣởng trực tiếp đến lợi nhuận, từ đó ảnh hƣởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong doanh nghiệp xây dựng, các đơn vị trực tiếp thi công xây lắp công trình nhƣ các đội xây dựng, các xƣởng sản xuất phụ trợ là các đơn vị có ảnh hƣởng trực tiếp và quyết định đến chi phí sản xuất. Do đó, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hƣởng từ hiệu quả sản xuất kinh doanh của các đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh nhìn từ góc độ lợi nhuận. Lợi nhuận của doanh nghiệp xây dựng trong cơ chế thị trƣờng gắn liền với chiến lƣợc sản xuất kinh doanh, chiến lƣợc thị trƣờng của doanh nghiệp. 7 Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, để giành đƣợc hợp đồng xây dựng thì mỗi doanh nghiệp phải xây dựng giá dự thầu đảm bảo tính cạnh tranh cao, để vừa bảo đảm công ăn việc làm thƣờng xuyên, bù đắp đủ chi phí sản xuất, vừa có lãi để tồn tại và phát triển sản xuất kinh doanh. Nếu doanh nghiệp có lợi thế cao và giữ vị trí độc quyền trong sản xuất sản phẩm thì lợi nhuận cao, nếu lợi thế kém và cạnh tranh gay gắt thì lợi nhuận thấp, thậm chí không có lãi.
Trong điều kiện đó thì doanh nghiệp càng phải chú trọng vào quá trình thực hiện hợp đồng, chỉ đạo sát sao và chặt chẽ các đội xây dựng thực hiện hợp đồng thi công đảm bảo các yêu cầu về thời gian, chất lƣợng và giá cả. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gắn liền với tiến độ thi công, tốc độ hoàn thành bàn giao công trình, chất lƣợng xây dựng và kết quả hoạt động của các đội xây dựng. - Hiệu quả sản xuất kinh doanh nhìn từ góc độ vốn sản xuất kinh doanh. Để tiến hành sản xuất kinh doanh phải có vốn.
Vốn sản xuất kinh doanh gồm có vốn cố định và vốn lƣu động. Nhu cầu vốn phải xác định trên cơ sở khối lƣợng sản xuất kinh doanh hàng năm. Đa phần các doanh nghiệp xây lắp thiếu vốn. Vay quá nhiều là một trong những nguyên nhân khiến kinh doanh không có hiệu quả.
Rất nhiều doanh nghiệp vay để mở rộng sản xuất kinh doanh, không tính toán phải giữ một tỷ lệ vay nợ tối thiểu để bảo vệ an toàn của tài chính. Khi tỷ suất lợi nhuận trƣớc khi chi trả lợi tức cao hơn lãi suất tiền vay thì có thể vay để mở rộng kinh doanh, nhằm tăng thêm thu nhập. Nhƣng khi tỷ suất lợi nhuận kinh doanh thấp hơn lãi suất đi vay thì rất dễ đi đến thất bại. Bên cạnh đó, đầu tƣ quá mức vào thiết bị, tài sản cố định, dễ dẫn đến ứ đọng vốn, tạo ra nguy cơ tiềm tàng trong doanh nghiệp.
Thực tế cho thấy, chỉ khi nào nắm chắc đƣợc triển vọng phát triển kinh doanh tốt, và sau khi đã có kế hoạch chính xác, mới có thể mở rộng đầu tƣ vào thiết bị một cách có hiệu quả. Khi đã có đủ vốn sản xuất kinh doanh thì vấn đề sử dụng vốn nhƣ thế nào để có 8 hiệu quả mới là quan trọng. Hiệu quả sử dụng vốn thể hiện ở tốc độ luân chuyển vốn và sức sinh lợi của vốn. Tóm lại, trong phạm vi doanh nghiệp, hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để đạt đƣợc kết quả cao nhất với chi phí ít nhất trong sản xuất kinh doanh.
Nó vừa là thƣớc đo trình độ tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, vừa là vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng là một vấn đề phức tạp, có quan hệ đến tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh (sức lao động, tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động) nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt đƣợc hiệu quả cao khi sử dụng có hiệu quả các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh. Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp, bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp (khái quát) và các chỉ tiêu chi tiết (cụ thể).
Các chỉ tiêu đó phải phản ánh đƣợc sức sản xuất, suất hao phí, cũng nhƣ sức sinh lợi của từng yếu tố, từng loại vốn (kể cả tổng số và phần gia tăng) và phải thống nhất với công thức đánh giá hiệu quả chung: Hiệu quả KÕt qu¶ ®Çu ra = s¶n xuÊt kinh doanh Chi phÝ ®Çu vµo Công thức này phản ánh sức sản xuất (hay sức sinh lời) của các chỉ tiêu phản ánh đầu vào, đƣợc tính cho tổng số và cho riêng phần gia tăng. 9 Kết quả đầu ra đƣợc đo bằng các chỉ tiêu nhƣ: Giá trị tổng sản lƣợng, giá trị sản lƣợng xây lắp, doanh thu thuần, lợi nhuận ròng (lợi nhuận sau thuế)… còn chi phí đầu vào bao gồm chi phí lao động, tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động, vốn chủ sở hữu, vốn vay…. Hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng có thể tính bằng cách so sánh nghịch đảo: Hiệu quả Chi phÝ ®Çu vµo = s¶n xuÊt kinh doanh KÕt qu¶ ®Çu ra Công thức này phản ánh suất hao phí của các chỉ tiêu đầu vào, nghĩa là để có một đơn vị kết quả đầu ra thì hao phí hết mấy đơn vị chi phí (hoặc vốn) ở đầu vào. Theo cách tính này chỉ mới phản ánh đƣợc mặt lƣợng của hiệu quả, chƣa phản ánh đƣợc chính xác chất lƣợng hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng nhƣ các tiềm lực nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó không cho phép so sánh hiệu quả kinh doanh giữa các kỳ với nhau và giữa các doanh nghiệp.
Hơn nữa, cách tính trên về hiệu quả không thể phát hiện đƣợc doanh nghiệp đã tiết kiệm hay lãng phí lao động xã hội ở khâu nào. Để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ nhất định, và có căn cứ để các nhà quản lý đƣa ra quyết định tài chính trong tƣơng lai; Doanh nghiệp xây dựng thƣờng sử dụng một số chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh nhƣ sau: 1. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản cố định. 10 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định đƣợc tính toán bằng nhiều chỉ tiêu, nhƣng phổ biến là các chỉ tiêu sau: Sức sản xuất của Tæng doanh thu thuÇn = tµi s¶n cè ®Þnh Nguyªn gi¸ b×nh qu©n TSC Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá tài sản cố định đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
Sức sinh lợi của Lîi nhuËn thuÇn = tµi s¶n cè ®Þnh Nguyªn gi¸ b×nh qu©n TSC Chỉ tiêu này cho biết một đồng nguyên giá bình quân TSCĐ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận (hay lãi gộp). Suất hao phí Nguyªn gi¸ b×nh qu©n TSC§ = tµi s¶n cè ®Þnh Doanh thu thuÇn hay lîi nhuËn thu Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng doanh thu thuần hoặc lợi nhuận thuần, có bao nhiêu đồng nguyên giá TSCĐ. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động. - Hiệu quả chung về sử dụng tài sản lƣu động đƣợc phản ánh qua các chỉ tiêu nhƣ sức sản xuất, sức sinh lời của vốn lƣu động.
Suất sản xuất của Tæng doanh thu thuÇn = vèn l-u ®éng Vèn l-u ®éng b×nh qu©n Sức sản xuất của vốn lƣu động cho biết một đồng vốn lƣu động đem lại bao nhiều đồng doanh thu thuần. 11 Sức sinh lợi của Lîi nhuËn thuÇn (l·i gép) = vèn l-u ®éng Vèn l-u ®éng b×nh qu©n Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lƣu động làm ra bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần hay lãi gộp trong kỳ. Khi đánh giá, cần tính ra các chỉ tiêu trên rồi so sánh giữa thực tế với kế hoạch (hoặc thực tế kỳ này với kỳ trƣớc). - Chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn lƣu động: Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lƣu động vận động không ngừng, thƣờng xuyên qua các giai đoạn của quá trình sản xuất (dự trữ - sản xuất - bàn giao công trình).
Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Để xác định tốc độ luân chuyển vốn, ngƣời ta sử dụng các chỉ tiêu: Số vòng quay của Tæng doanh thu thuÇn = vèn l-u ®éng Vèn l-u ®éng b×nh qu©n Chỉ tiêu này cho biết vốn lƣu động quay đƣợc bao nhiêu vòng trong kỳ. Nếu số vòng quay tăng, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng, và ngƣợc lại. Chỉ tiêu này còn đƣợc gọi là hệ số luân chuyển vốn lƣu động.
Thời gian của một Thêi gian cña kú ®¸nh gi¸ = vßng lu©n chuyÓn Sè vßng quay cña vèn l-u ®éng trong kú Chỉ tiêu này cho biết cần bao nhiều ngày cho vốn lƣu động quay đƣợc một vòng. Thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng cao. Ngoài ra, có thể sử dụng chỉ tiêu “ Hệ số đảm nhiệm của vốn lƣu động”.