Chương 1: Cơ sở khoa học về công tác kiểm tra, thanh tra thuế Chương 2: Thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm tăng cường kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, THANH TRA THUẾ 1.1 Thuế và quản lý thuế 1.1 Khái niệm, đặc điểm và chức năng của thuế 1.1 Khái niệm Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa vụ bắt buộc của các pháp nhân và thể nhân đối với Nhà nước không mang tính đối giá hoàn trả trực tiếp. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật. Thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan, thuế ra đời xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà nước và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực Nhà nước. Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất dưới hình thức giá trị giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội.
Hệ thống pháp luật thuế được coi là phù hợp không chỉ nhìn một cách phiến diện vào số lượng các Luật thuế nhiều hay ít, vào mục tiêu đơn thuần là động viên tài chính vào NSNN mà phải được phân tích một cách toàn diện, chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế, với đời sống xã hội, không đối lập với quyền lợi và khả năng đóng góp của nhân dân. Viêt Nam trước cải cách chế độ thu NSNN, Luật thuế chỉ áp dụng đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tập thể và cá thể. Ðể thực hiện chế độ thu NSNN phù hợp với cơ chế thị trường, phát huy vai trò của các hình thức thu NSNN, cuộc cải cách chế độ thu NSNN được thực hiện trên cơ sở Nghị quyết Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ IV năm 1989. Kết quả của cuộc cải cách này đưa đến việc áp dụng thống nhất chế độ thu thuế đối với tất cả các thành phần kinh tế, không phân biệt hình thức sở hữu, hình thức kinh doanh.
Từ đây thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của NSNN và thuế chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn thu NSNN. 5 Ở hầu hết các nước trên thế giới, thuế thường được phân loại khác nhau theo tính chất hoặc theo đối tượng đánh thuế, ngoài ra còn có một số cách phân loại khác: a, Căn cứ theo tính chất, thuế được chia thành 2 loại: thuế gián thu và thuế trực thu nhằm xác định ai là người phải chịu thuế Thuế gián thu là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế mà đánh gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ. Đặc điểm của thuế gián thu là người nộp thuế và người chịu thuế theo nghĩa kinh tế không đồng nhất với nhau. Loại thuế này có sự chuyển gánh nặng thuế trong trường hợp nhất định do sự chi phối của quan hệ cung cầu trên thị trường và tính chất thị trường.
Thuế gián thu mang tính chất thuế lũy thoái. Ở nước ta, thuế gián thu gồm thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu v. Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu thu nhập hay tài sản của người nộp thuế. Người trực nộp thuế đồng thời là người chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế.
Thuế trực thu làm cho khả năng và cơ hội chuyển giao gánh nặng thuế cho các đối tượng khác trở nên khó khăn hơn. Thuế trực thu mang tính chất lũy tiến vì nó tính đến khả năng thu nhập của người nộp thuế. tại Việt Nam, thuế trực thu gồm thuế thu nhập của người có thu nhập cao, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên, thuế nhà đất v. b, Căn cứ theo cơ sở đánh thuế bao gồm: Thuế thu nhập bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được hình thành từ nhiều nguồn: từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công; thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức cổ phần, lợi tức cho vay… Thu nhập được biểu hiện dưới nhiều dạng nên thuế thu nhập cũng được biểu hiện dưới nhiều dạng: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài… 6 Thuế tiêu dùng là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập được mang tiêu dùng trong thực tế, biểu hiện như thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt… Thuế tài sản là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản.
Tài sản có thể biểu hiện dưới dạng: tài sản tài chính như tiền mặt, tiền gửi, chứng khoán, thương phiếu…; tài sản cố định hữu hình như nhà cửa, đất đai, máy múc, nhà xưởng, xe cộ; tài sản vô hình như nhãn hiệu, thương hiệu. Thuế tài sản đánh trên giá trị tài sản cố định gọi là thuế bất động sản.2 Đặc điểm a, Thuế là một phạm trù kinh tế khách quan và là một phạm trù lịch sử, nó xuất hiện và tồn tại cùng với sự hình thành và tồn tại của Nhà nước, với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, tiền tệ Trong lịch sử phát triển nhân loại, Nhà nước được xuất hiện trong xã hội có giai cấp để duy trì trật tự và phát triển kinh tế xã hội. Mọi Nhà nước đều phải thực hiện một số chức năng của mình về củng cố bộ máy, về an ninh quốc phòng, về trật tự an toàn xã hội, về tổ chức quản lý, phát triển kinh tế. Muốn thực hiện được chức năng đó, Nhà nước cần phải có nguồn thu để chi tiêu.
Vì vậy, Nhà nước phải động viên sự đóng góp một phần thu nhập của xã hội do các tổ chức và các tầng lớp dân cư tạo ra dưới hình thức thuế. Từ đó, thuế là một đòi hỏi tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu hoạt động của Nhà nước. Nói một cách khác, nếu không có thuế thì Nhà nước không có điều kiện vật chất để tồn tại và phát triển. Ban đầu thuế được động viên chủ yếu dưới dạng hiện vật, sau đó các quan hệ về thuế dưới hình thức giá trị được hình thành và ngày càng phát triển có tính chất hệ thống.
Các thứ thuế khác nhau lần lượt ra đời với những tiến bộ của lịch sử. b, Thuế và hệ thống thuế là sản phẩm chủ quan của mỗi Nhà nước Nó có thể phù hợp hoặc không còn phù hợp hoàn toàn với sự biến động phức tạp của tình hình kinh tế, xã hội, với đường lối chủ trương của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định. 7 Cũng có trường hợp thuế và hệ thống thuế phù hợp nhưng hình thức quản lý thu nộp không thật phù hợp, chi phí cho quản lý thu quá lớn dẫn đến hiệu quả kém. Hệ thống và chính sách thuế của từng giai đoạn còn phải phù hợp với tổ chức thực hiện thì mới phát huy được hết hiệu quả, toàn diện của cả hệ thống thuế.
Tổ chức thực hiện bao gồm cả tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ thuế, các biện pháp về quản lý, thu nộp thuế.3 Chức năng Thuế là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính. Tuy nhiên thuế cũng có những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính. Căn cứ vào nội dung cùng với quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, thuế có các chức năng sau: a, Phân phối và phân phối lại Đây là chức năng cơ bản, đặc thù của thuế. Ngay từ lúc ra đời, thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chính vào NSNN (có ở tất cả các kiểu Nhà nước).
Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế. Thông qua chức năng này, các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự hoạt động thường xuyên và tồn tại của Nhà nước. Bằng chính chức năng này, Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội. Chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập của thuế là sự huy động một bộ phận thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào NSNN.
Phần lớn thuế đánh trên hàng hóa và thu nhập. Người có thu nhập cao và sử dụng nhiều hàng hóa, dịch vụ là người nộp thuế nhiều hơn. Số tiền này sau đó lại được Nhà nước chi nhằm thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, tạo ra tính công bằng tương đối cho xã hội. Trong một chừng mực nhất định, chức năng phân phối và phân phối lại đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết của thuế.
8 Chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngày càng quan trọng. Ðiều này được giải thích bởi sự phát triển, mở rộng các chức năng của Nhà nước và việc thực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong đó có việc can thiệp của Nhà nước vào các quá trình kinh tế. b, Điều tiết nền kinh tế Chức năng điều tiết của thuế được nhận thức và sử dụng rộng rãi từ những năm đầu của thế kỷ XX và gắn liền với vai trò điều chỉnh của Nhà nước đối với nền kinh tế. Việc tăng cường vai trò kinh tế - xã hội của Nhà nước dẫn đến tốc độ chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên và hậu qủa tất yếu là đòi hỏi Nhà nước phải mở rộng quỹ tài chính Nhà nước, hình thành chủ yếu từ việc thu thuế.
Nhu cầu về nguồn tài chính càng lớn thì Nhà nước cần phải tăng cường các chức năng của thuế để tác động một cách có hiệu qủa đến nền kinh tế. Chính trong qúa trình đó chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng điều chỉnh của thuế đã được sử dụng một cách hiện thực. Ðiều đó có nghĩa là nội dung điều tiết theo một mục tiêu nào đó đã được dự liệu trước vào trong quá trình huy động tập trung nguồn tài chính.