Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ VÀ HIỆU QUẢ KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1.1 Kiểm toán bộ Ngân hàng Trung ương 1. Sự cần thiết của Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương Mỗi tổ chức khác nhau có những rủi ro khác nhau, nhưng hầu hết đều quan tâm đến những rủi ro về tiền bạc và rủi ro về uy tín. Với Ngân hàng Trung ương thì rủi ro về tiền xét cho cùng cũng dẫn đến những rủi ro về uy tín. Chức năng ổn định tiền tệ là chức năng phổ biến của Ngân hàng Trung ương các nước.
Những thiệt hại về tiền của Ngân hàng Trung ương thường là tiền của Nhà nước, hoặc là tiền của Nhà nước sử dụng để bồi thường cho những thiệt hại đã xảy ra. Điều đó liên quan rất nhiều đến công chúng và sẽ làm giảm uy tín của Ngân hàng Trung ương. Hoạt động của Ngân hàng Trung ương có rất nhiều loại rủi ro, có những rủi ro bên ngoài nhưng cũng có những rủi ro ngay trong nội bộ ngân hàng; có những rủi ro tài chính và các rủi ro phi tài chính. Những rủi ro chủ yếu của Ngân hàng Trung ương bao gồm: - Sai sót; - Gian lận; trộm cắp; - Những ý kiến kém chất lượng dẫn đến quyết định quản lý sai; - Những kế hoạch kém chất lượng; - Sự hỗ trợ cho hệ thống máy tính kém hiệu quả; - Vi phạm pháp luật; - Mất dữ liệu; - Mất tài sản; - Thông tin quản lý không đầy đủ 10 Kiểm soát nội bộ có vai trò quan trọng trong việc phát hiện và phòng ngừa rủi ro, bảo vệ Ngân hàng Nhà nước hoạt động an toàn và hiệu quả.
Nhưng để đánh giá chất lượng của hoạt động kiểm soát nội bộ đồng thời đảm bảo kiểm soát tối đa các rủi ro, Ngân hàng Nhà nước phải dựa rất nhiều vào hoạt động kiểm toán đặc biệt là kiểm toán nội bộ. Ở Ngân hàng Trung ương các nước trên thế giới, tham gia kiểm soát Ngân hàng có rất nhiều thành phần, bao gồm: Chính phủ, Quốc hội, định chế kiểm toán tối cao, Kiểm toán độc lập và Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương. Chính phủ và Quốc hội có vai trò quan trọng trong việc tạo ra và duy trì môi trường pháp lý cho hoạt động kiểm toán đầy đủ và hiệu quả. Ngoài thông tin do kiểm toán độc lập cung cấp, Chính phủ và Quốc hội còn nhận được nhiều thông tin khác nhau hỗ trợ cho việc kiểm soát và đánh giá hoạt động ngân hàng.
Các định chế Kiểm toán tối cao và tổ chức kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán Ngân hàng Trung ương theo luật định. Kiểm toán nội bộ do một bộ phận của Ngân hàng Trung ương thực hiện, bộ phận này độc lập với các hoạt động nghiệp vụ, quản lý và điều hành của Ngân hàng Trung ương, nhưng phải tuân theo những nguyên tắc, chuẩn mực do Ngân hàng Trung ương quy định phù hợp với thông lệ quốc tế. Kiểm toán nội bộ có những vai trò, tác dụng chủ yếu như sau: - Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm đến đối tượng kiểm toán. Báo cáo kết quả kiểm toán cung cấp các thông tin trung thực giúp cho các cơ quan Nhà nước điều hành kinh tế vĩ mô.
Các nhà quản trị doanh nghiệp, nhà đầu tư coi kiểm toán là một công cụ hỗ trợ xây dựng chiến lược hoạt động, đưa ra những quyết định đúng đắn trong quá trình quản lý, sử dụng vốn hiệu quả. - Kiểm toán nội bộ góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp hoạt động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động quản lý nói chung. Mọi 11 hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính, đều bao gồm những mối quan hệ đa dạng, luôn thay đổi và được cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể. Để hướng các hoạt động này vào mục tiêu giải quyết tốt các mối quan hệ trên, không chỉ cần có định hướng đúng và thực hiện tốt mà còn cần thường xuyên soát xét, hướng các nghiệp vụ vào quỹ đạo mong muốn.
Hơn nữa, chính định hướng và tổ chức thực hiện cũng chỉ mang lại hiệu quả cao trên cơ sở các bài học từ soát xét và uốn nắn, chỉnh sửa thường xuyên trong quá trình thực hiện. - Kiểm toán không chỉ xác nhận độ tin cậy của thông tin mà còn tư vấn cho quản lý. Vai trò này được thể hiện rõ trong kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. - Là một loại hình kiểm toán, Kiểm toán nội bộ được thiết lập bên trong một đơn vị để kiểm tra, đánh giá và xác minh một cách độc lập đối với thông tin về các hoạt động diễn ra bên trong đơn vị.
Kiểm toán nội bộ được đánh giá là công cụ quản lý có hiệu quả và là sự bổ sung cần thiết cho công việc ngoại kiểm của hoạt động kiểm toán từ bên ngoài. Kiểm toán nội bộ có tác dụng rất lớn trong việc sớm phát hiện, ngăn chặn các hành vi tiêu cực, gian lận, sai sót trong quản lý và điều hành hoạt động, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của đơn vị. Khái niệm và bản chất của kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương Hiện nay, trên thế giới có nhiều loại kiểm toán khác nhau trên cơ sở các căn cứ phân chia khác nhau. Nếu phân loại theo chức năng thì bao gồm kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán báo cáo tài chính.
Nếu phân loại theo chủ thể kiểm toán thì bao gồm: kiểm toán nội bộ, Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán độc lập. Một số tổ chức quốc tế và tổ chức trong nước về kế toán và kiểm toán đã đưa ra khái niệm về kiểm toán như sau: 12 Kiểm toán là quá trình một hay một số cá nhân độc lập, có thẩm quyền, có kỹ năng nghiệp vụ thu thập và đánh giá các bằng chứng về thông tin có thể định lượng được của một hay một số đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo mức độ phù hợp giữa các thông tin có thể định lượng đó với các chuẩn mực đã được xây dựng. Từ khái niệm chung này, có thể hiểu kiểm toán Ngân hàng Nhà nước là quá trình một hay một số cá nhân độc lập, có thẩm quyền, có kỹ năng nghiệp vụ thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước hay toàn bộ hệ thống Ngân hàng Nhà nước nhằm mục đích xác nhận và báo cáo mức độ phù hợp giữa các thông tin có thể định lượng với các chuẩn mực đã được xây dựng. Khái niệm này có thể được giải thích như sau: - Các cá nhân độc lập là các kiểm toán viên, yêu cầu kiểm toán viên phải là người có đủ khả năng để hiểu các chuẩn mực đã được xây dựng và phải có đủ những thẩm quyền khi thực hiện kiểm toán để có thể thu thập được đầy đủ những bằng chứng phục vụ cho quá trình kiểm toán.
Kiểm toán viên phải là người độc lập về quan hệ kinh tế và quan hệ gia đình với người đứng đầu đơn vị được kiểm toán. Kiểm toán viên phải đáp ứng được yêu cầu đảm bảo tính trung thực, vô tư, khách quan trong công việc kiểm toán. - Một hay một số cá nhân độc lập ở khái niệm này chỉ nên hiểu tương đối, có thể các cá nhân này độc lập với Ngân hàng Nhà nước, ở ngoài Ngân hàng Nhà nước. Cũng có thể các cá nhân đó làm việc trong Ngân hàng Nhà nước nhưng độc lập với các đơn vị được kiểm toán.
Tuy nhiên, tính độc lập của kiểm toán viên không phải là một khái niệm tuyệt đối trong quá trình kiểm toán Ngân hàng Nhà nước, nhưng điều này là mục tiêu hướng tới và phải đạt được ở một mức độ nào đó. 13 - Thu thập và đánh giá các bằng chứng của kiểm toán viên đã thu thập được trong quá trình kiểm toán Ngân hàng Nhà nước để xác định mức độ tương quan và phù hợp giữa các thông tin có thể định lượng được của đơn vị được kiểm toán với các chuẩn mực đã được xây dựng. - Các thông tin có thể định lượng và các chuẩn mực đã được xây dựng: Để tiến hành được một cuộc kiểm toán thì các kiểm toán viên phải có các thông tin có thể định lượng được của Ngân hàng Nhà nước, hay của các đơn vị được kiểm toán thuộc Ngân hàng Nhà nước. Các thông tin có thể định lượng được của Ngân hàng Nhà nước thường bao gồm các thông tin về tiền tệ, tín dụng, thanh toán và các thông tin liên quan khác được phản ánh qua các thông tin thống kê, báo cáo, các thông tin về kế toán, quyết toán, các loại sổ sách, các phương tiện lưu trữ thông tin như băng từ, đĩa từ.
Các chuẩn mực áp dụng trong kiểm toán Ngân hàng Nhà nước là các quy định mang tính quy phạm pháp luật, các biện pháp nghiệp vụ, các chuẩn mực về các nghiệp vụ ngân hàng đã được xây dựng trước, các chuẩn mực về kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, của Bộ Tài chính, của Ngân hàng Nhà nước. - Đơn vị được kiểm toán: Có thể là một Vụ, Cục, một Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố hoặc một đơn vị khác thuộc Ngân hàng Nhà nước. - Báo cáo kết quả: Sau giai đoạn thực hiện kiểm toán, Đoàn kiểm toán thực hiện lập báo cáo kiểm toán. Tuỳ thuộc vào loại kiểm toán, các loại báo cáo kiểm toán có thể khác nhau về nội dung, bản chất nhưng trong mọi trường hợp đều phải cung cấp cho người sử dụng về mức độ tương quan giữa các thông tin đã kiểm toán với các chuẩn mực đã xây dựng.
Tuỳ thuộc vào cáo loại kiểm toán và các cuộc kiểm toán, báo cáo kiểm toán có thể được gửi cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng khác nhau của các cuộc kiểm toán. Mục tiêu của kiểm toán nội bộ Ngân hàng Nhà nước là đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ Ngân hàng Nhà 14 nước nhằm đảm bảo độ tin cậy của các số liệu kế toán, tài chính, các loại báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán; đảm bảo cho các đơn vị thuộc hệ thống Ngân hàng Nhà nước sử dụng các nguồn lực tiết kiệm, hiệu quả, an toàn tài sản, tuân thủ pháp luật Nhà nước và các quy định của Ngân hàng Nhà nước. Chức năng, nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ 1.