lời mở đầu và kết luận thì gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về hiệu quả huy động vốn của NHTM Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại PGD số 2 – Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam CN Thanh Hóa. Chƣơng 3:Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại PGD số 2 – Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam CN Thanh Hóa. 2 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về Ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm Ngân hàng thương mại Hiện nay, tuy khái niệm về NHTM ở mỗi nƣớc có đặc điểm khác nhau nhƣng đều thống nhất coi NHTM là doanh nghiệp chuyên kinh doanh tiền tệ và cung ứng những dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, là một trong những tổ chức tài chính trung gian, các tổ chức tài chính trung gian này gọi chung là các định chế tài chính có chức năng giống nhau là dẫn vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Dễ nhận thấy các NHTM đều có chung một tính chất, đó là: việc nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạnđể sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, đầu tƣ và các dịch vụ kinh doanh kháccủa chính ngân hàng. Các nhà kinh tế đã đƣa ra khái niệm về NHTM nhƣ sau: “ NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán” 1. Vai trò của Ngân hàng thương mại Từ khái niệm về NHTM nêu trên áp dụng vào thực tế nƣớc ta, một nƣớc có hơn 80% dân số sống bằng nghề nông, việc phát triển sản xuất theo chiều hƣớng CNH – HĐH rất cần đến NHTM với vai trò to lớn của nó.
Nhất là khi quá trình CNH – HĐH của chúng ta đã đi vào chiều sâu, yêu cầu cần có vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng tốc đầu tƣ, từng bƣớc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo nhịp độ tăng trƣởng kinh tế nhanh và lâu bền, thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế năm thì vai trò của các NHTM càng đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta coi trọng. NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế Vốn đƣợc tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức trong nền kinh tế. Vì vậy, muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân, có mức độ tiêu dùng hợp lý. Tăng thu nhập quốc dân đồng nghĩa với việc mở rộng sản xuất và lƣu thông hàng hoá, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế.
Thông qua hình thức cấp tín dụng, ngân hàng đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, thiết bị, đổi mới quy trình công nghệ, nâng cao năng suất lao động đem lại hiệu quả kinh tế, cũng có nghĩa là đƣa doanh nghiệp lên những nấc thang cạnh tranh cao hơn. Cạnh tranh càng mạnh mẽ, kinh tế càng phát triển. Nhƣ vậy với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của quốc gia. NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường Thị trƣờng ở đây đƣợc hiểu ở hai góc độ, thị trƣờng đầu vào và thị trƣờng đầu ra của doanh nghiệp.
Để có thể tiến hành bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, doanh nghiệp cần phải tham gia vào thị trƣờng đầu vào nhằm thực hiện thành công chiến lƣợc 5P: Product (sản phẩm), Price (giá cả), Promotion (giao tiếp, khuyếch trƣơng), Place (địa điểm) và People (con ngƣời). Từ đó tiếp cận mạnh mẽ vào thị trƣờng đầu ra, tìm kiếm lợi nhuận. Để quá trình trên diễn ra liên tục và bình thƣờng thì doanh nghiệp cần có “vốn”, nhƣng không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng về tài chính và NHTM là nơi cần thiết giúp doanh nghiệp cải thiện tình hình đó. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá nhƣ hiện nay thì vai trò này ngày càng thể hiện rõ rệt hơn, áp lực cạnh tranh buộc nền kinh tế mỗi quốc gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh về mọi mặt, đặc biệt là tiềm lực về tài chính.
Để có thể hòa nhập với các quốc gia khác trên thế giới, hệ thống các NHTM có khả năng cung cấp nhiều loại hình dịch vụ khác nhau hỗ trợ cho việc đầu tƣ từ nƣớc ngoài vào trong nƣớc theo các hình thức: thanh toán quốc tế, 4 nghiệp vụ hối đoái, cho vay uỷ thác đầu tƣ. giúp cho luồng vốn ra, vào một cách hợp lý, đƣa nền tài chính nƣớc nhà bắt kịp với nền tài chính quốc tế. Đây là một trong những điều kiện kiên quyết cho tiến trình hội nhập kinh tế ở các quốc gia trên thế giới. NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Một trong những con đƣờng dẫn đến lạm phát của nền kinh tế là lạm phát qua con đƣờng tín dụng.
Khi xảy ra lạm phát, ngân hàng trung ƣơng sẽ tăng tỷ lệ vào dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu hoặc tham gia vào thị trƣờng mở để thông qua các NHTM thay đổi lại lƣợng tiền trong lƣu thông. Các NHTM sẽ kiểm soát lạm phát thông qua các hoạt động tín dụng, bảo lãnh. Từ đó ngân hàng xác định đƣợc hƣớng đầu tƣ vốn và đề ra các biện pháp xử lý những tác động xấu ảnh hƣởng đến nền kinh tế, làm cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục, góp phần điều hoà lƣu thông tiền tệ, ổn định sức mua của đồng tiền, kiềm chế lạm phát. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại Tuỳ theo các tiêu chí, mục đích huy động khác nhau có các hình thức sau: - Nếu huy động vốn phân theo loại tiền: huy động vốn nội tệ và ngoại tệ.
- Nếu theo kỳ hạn huy động: huy động vốn ngắn, trung và dài hạn. - Nếu phân theo đối tƣợng huy động vốn: huy động vốn từ các cá nhân, hộ gia đình và tổ chức kinh tế. Ngoài ra, các NHTM còn huy động từ các nguồn bên ngoài khác. Huy động vốn theo loại tiền - Tiền gửi nội tệ: Là loại tiền gửi bằng đồng Việt Nam (VND) gửi vào ngân hàng và hƣởng lãi suất tiền Việt Nam đƣợc quy định tại thời điểm gửi tiền.
Đây là khoản tiền gửi quan trọng của các ngân hàng, nó phụ thuộc vàothu nhập trong nƣớc và chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng lƣợng tiền gửi. - Tiền gửi ngoại tệ:Là loại tiền gửi bằng ngoại tệ vào ngân hàng và hƣởng lãi suất ngoại tệ gửi. Các ngoại tệ đƣợc huy động chủ yếu là các ngoại tệ mạnh nhƣ USD, GBP,DEM,. những khoản ngoại tệ này cũng rất quan trọng cho 5 hoạtđộng ngân hàng nhƣ kinh doanh ngoại tệ trong nƣớc, tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toánquốc tế.
Huy động vốn theo kỳ hạn - Huy động vốn ngắn hạn Tiền gửi ngắn hạn từ thị trường: Là nguồn cơ bản quan trọng nhất, luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn. Nó không những đáp ứng đƣợc nhu cầu kinh doanh ngắn hạn của NHTM mà còn có sự chuyển hoán kỳ hạn để đầu tƣ, cho vay dài hạn giúp NHTM giảm bớt gánh nặng thiếu vốn trung và dài hạn. Vay NHNN và các TCTD khác: Các khoản mà NHNN và các TCTD khác cho vay hầu hết đều ngắn hạn chỉ để khắc phục hiện tƣợng thiếu hụt dự trữ bắt buộc hay để đáp ứng nhu cầu chi trả cấp bách trong thời gian ngắn. Việc vay vốn này lãi suất thƣờng cao nên các NHTM chỉ khi thực sự cần thiết cấp bách mới huy động thông qua hình thức này.
Các khoản huy động USD ngoài nước: Các NHTM cũng có thể tìm kiếm nguồn vốn hoạt động từ việc phát hành phiếu nợ để huy động tiền ở nƣớc ngoài. Vì loại tiền thông dụng nhất trong thanh toán quốc tế hiện nay là USD cho nên vay tiền ở nƣớc ngoài thƣờng là vay bằng USD. Khoản vay này dùng để phục vụ các thƣơng vụ bảo đảm tín dụng cho kinh doanh xuất nhập khẩu. - Huy động vốn trung và dài hạn Giống nhƣ các doanh nghiệp khác, các ngân hàng cũng vay mƣợn bằng cách phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trƣờng vốn.
Rất nhiều NHTM thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến không đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tƣ trung, dài hạn. Nhƣ vậy, hình thức tiền gửi trung và dài hạn tại các NHTM hầu nhƣ rất ít, việc huy động trung và dài hạn chỉ chủ yếu là vay trên thị trƣờng vốn. Thông thƣờng đây là khoản huy động không có đảm bảo, những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ huy động đƣợc nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thƣờng khó vay mƣợn trực tiếp bằng cách này, họ thƣờng phải huy động thông qua các ngân hàng đại lý hoặc đƣợc ngân hàng đầu tƣ.
Khả năng huy động còn phụ 6 thuộc vào trình độ phát triển của thị trƣờng tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng. Nghiệp vụ vay mƣợn này rất phức tạp. Huy động vốn theo đối tượng - Đối với đối tượng khách hàng là các tổ chức kinh tế Thông qua việc làm trung gian thanh toán và chuyển hoá các phƣơng tiện thanh toán, các ngân hàng thu hút đƣợc số lƣợng lớn các tổ chức mở tài khoản tạo ra tiền gửi giao dịch. Đây là nguồn có chi phí thấp nên các NHTM thƣờng xuyên cải tiến các phƣơng tiện, nâng cao công nghệ thanh toán để thắng thế trong việc hấp dẫn khách hàng gửi tiền và bán thêm các dịch vụ.
Các doanh nghiệp, TCKT thƣờng mở tài khoản tiền gửi giao dịch tại một hoặc một số NHTM nhất định, khi cần thiết yêu cầu rút ra hoặc chuyển trả tiền cho bên thụ hƣởng một cách nhanh chóng và tính chất của tài khoản này là thanh toán theo yêu cầu. Qua đó ngân hàng vừa là thủ quỹ, vừa cung cấp dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Ngoại trừ một số khoản tiền gửi giao dịch để đảm bảo khả năng thanh toán nhƣ ký quỹ, bảo lãnh dự thầu hoặc bảo lãnh thực hiện hợp đồng đƣợc quy định mang tính chất bắt buộc, các hình thức gửi tiền khác mang tính tự nguyện, khách hàng có thể lựa chọn ngân hàng để gửi tiền theo các kỳ hạn khác nhau do đó cạnh tranh về huy động vốn diễn ra quyết liệt giữa các NHTM, các TCTD.