CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Nguồn vốn của NHTM 1.Các nguồn hình thành nên vốn a. Vốn huy động “Vốn huy động của NHTM là các giá trị tiền tệ mà các NHTM huy động được bằng việc sử dụng các nghiệp vụ ngân hàng liên quan nhiều đến tiền gửi, tiền đi vay và những nguồn khác. Phương pháp phổ biển được sử dụng là nhận tiền gửi vào hoặc phát hành các loại hình giấy tờ có giá”(Quản trị NHTM, 2001, trang 100). Đặc biệt, cần phải phân loại rõ: Tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn, hoặc tiền gửi tiết kiệm cũng như phát hành giấy tờ có giá chính là vốn tiền gửi của hệ thống các NHTM.
Vốn đi vay Đây được xem là giá trị khai sinh thông qua quá trình đi vay được tiến hàng trên thị trường tiền tệ của các NHTM. Quan hệ thông qua vay mượn này nhằm bổ sung vốn hoạt động giữa NHTM với NHNN hoặc giữa các cơ quan này với các tổ chức tín dụng, quỹ ủy thác khác nhau trong nước và ngoài nước. Vốn tự có Đây là phần vốn mà NH tạo lập được, những nguồn vốn này được ngân hàng sở hũu. Những giá trị này được tạo lập qua sự góp vốn của các chủ sở hữu và thông qua kết quả hoạt động kinh doanh của cơ sở.
Vốn tự có được phân loại thành: Vốn điều lệ: Đây là dòng vốn mà tất cả các hệ thống ngân hàng bắt buộc phải có để có thể đi vào hoạt động và là vốn được quy định rõ theo pháp luật. Vốn tự có bổ sung: Đây là dòng vốn được hình thành từ các quỹ, trong đó có các quỹ cơ bản như: Quỹ dự trữ có nhiệm vụ bổ sung vốn điều lệ, Quỹ dự phòng có vai trò bù đắp rủi ro hoặc lợi nhuận không chia. Vốn khác Đây là phần vốn các ngân hàng có được khi đóng vai trò làm trung gian thanh toán hoặc đứng ra với vai trò trực tiếp nhận ủy thác đầu tư, vốn tài trợ, góp vốn liên doanh liên kết 1. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm hoạt động huy động vốn của NHTM “Vốn huy động của NHTM là giá trị tiền tệ mà các NHTM huy động được trên thị trường bằng việc sử dụng các nghiệp vụ tiền gửi, hoặc tiền vay và nhiều nguồn vốn khác. Vốn huy động là nguồn đầu vào chủ yếu đáp được sử dụng cho các hoạt động thiết yếu của ngân hàng. Vì vậy huy động vốn được xem là hoạt động có vai trò quyết định quá trình sống còn và phát triển đi lên của mỗi ngân hàng”( Giáo trình NHTM,2013, trang32). Vậy hoạt động huy động vốn là gì và ngân hàng sẽ sử dụng những cách thức nào để có thể huy động vốn? Theo ngôn ngữ thường dùng của xã hội và trên các phương tiện truyền thông đặc biệt là báo chí, hoạt động huy động vốn được hiểu theo nghĩa hẹp, chủ yếu được dùng để nói đến một hoạt động đặc thù nhất của ngân hàng đó là hoạt động nhận tiền gửi bao gồm tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không có kỳ hạn.
Cách tiếp cận được áp dụng nhiều nhất hiện nay từ những nghiên cứu trong các ngành chuyên nghiên cứu về kinh tế và tài chính ngân hàng là “tiếp cận huy động vốn từ nguồn gốc của nguồn vốn. Theo đó, nguồn vốn được hình thành từ: vốn chủ sở hữu, vốn đi vay, vốn huy động, vấn nhận, vốn khác…”(Giáo trình ngân hàng thương mại, 2003, trang 86) Tóm lại, Huy động vốn được hiểu là hoạt động mà các ngân hàng dùng nhiều phương pháp khác nhau nhằm xây dựng, sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả tuân thủ theo đúng qui định của pháp luật và đáp ứng đủ mục tiêu kinh doanh của ngân hàng đề ra. “Với vai trò và nhiệm vụ chính của mình, các NHTM thu hút, quy tụ các nguồn vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng của cá nhân, tổ chức vào ngân hàng. Các ngân hàng sẽ tiến hành hoạt động cho vay nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất kinh 6 doanh, đáp ứng các mục tiêu phát triển ngành, vùng, thành phần kinh tế tạo tiền để để thúc đẩy nền kinh tế nói chung phát triển, trên cơ sở nguồn vốn huy động được.
Nhờ hoạt động huy động vốn của NHTM, khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế được huy động vào quá trình trình sản xuất và lưu thông của hàng hóa”( Giáo trình NHTM, 2013, trang 50). Vì vậy, nghiên cứu hoạt động huy động vốn là công việc hết sức cần thiết để tìm ra những phương hướng huy động cũng như cách sử dụng hợp lý để nhằm nâng cao hiệu quả tính huy động vốn, đáp ứng mục tiêu của ngân hàng cũng như góp phần làm thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế phát triển. Mục tiêu hoạt động huy động vốn của NHTM * Mục tiêu thứ nhất: Xây dựng quy mô và sự tăng trưởng nguồn vốn ổn định Quy mô nguồn vốn cần được xây dựng trên cơ sở quy mô hoạt động, các chính sách,mục tiêu và nguồn lực của ngân hàng.“Ngân hàng có khối lượng vốn dồi dào sẽ đảm bảo được khả năng thanh toán, cơ sở mở rộng các hoạt động cho vay, đầu tư khác. Tuy nhiên, không phải tất cả nguồn vốn lớn nào cũng là tốt mà nó phụ thuộc vào vốn tự có, quy mô hoạt động của từng ngân hàng, hiệu quả cho vay và đầu tư…”Sự tăng trưởng nguồn vốn ổn định là đích đến mà mọi NHTM đều mong muốn tiến đến.
* Mục tiêu thứ hai: Tạo lập nguồn vốn có tính ổn định và cơ cấu nguồn vốn hợp lý “Trong điều kiện thị trường luôn biến động, ngân hàng cần xây dựng cơ cấu vốn đa dạng và hợp lý, nhằm đảm bảo một tỷ lệ nhất định giữa các nguồn vốn huy động ngắn hạn cũng như dài hạn, giữa vốn nội tệ cũng như ngoại tệ, giữa nguồn vốn huy động từ khách hàng cá nhân và các tổ chức kinh tế. Bên cạnh đó, việc dự đoán xu hướng biến động nguồn vốn có thể huy động giúp các ngân hàng có tính chủ động lập kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả”(Giáo trình NHTM, 2013, trang 60). Do đó, các ngân hàng phải thường xuyên thực hiện hoạt động nghiên cứu cũng như tiếp cận thị trường. 7 * Mục tiêu thứ ba: Sử dụng các nguồn vốn giá rẻ “Để tối đa hóa lợi nhuận, ngoài việc tính toán việc sử dụng vốn hiệu quả, các NHTM cần tập trung tìm kiếm nguồn đầu vào với chi phí rẻ.
Chi phí trả lãi được xem như là chi phí lớn nhất trong tất cả các chi phí của ngân hàng”. Công việc tính chi phí cho từng nguồn vốn huy động sẽ giúp các nhà quản lý ngân hàng có thể xác định huy động nguồn nào hợp lý nhất, đảm bảo doanh thu bù đắp chi phí cũng như nâng cao được lợi nhuận mang lại. * Mục tiêu thứ tư: Nâng cao công tác điều hành vốn phục vụ kinh doanh Tình trạng không cân xứng vốn giữa các chi nhánh của cùng hệ thống, hoặc giữa các ngân hàng khác nhau là tương đối thường xuyên. Vì vậy,“các ngân hàng phải nâng cao quản lý hoạt động của nguồn vốn như: điều chuyển vốn nội bộ, điều chuyển vốn liên ngân hàng, vay ngân hàng khác, cũng như vay NHTW…đảm bảo lợi ích của ngân hàng, nâng cao tính chủ động trong hoạt động kinh doanh”.
Phương thức huy động vốn của NHTM Các NHTM thường áp dụng các phương thức sau để tiến hành huy động vốn: 1. Huy động vốn qua hình thức nhận tiền gửi: Các dịch vụ nhận tiền gửi mà ngân hàng thường cung cấp cho khách có nhu cầu gửi tiền bao gồm: * Tiền gửi không kỳ hạn “Tiền gửi không kỳ hạn là hình thức tiền gửi mà khách hàng có thể gửi vào hoặc rút ra vào bất cứ lúc nào. Và ngân hàng có nhiệm vụ làm thỏa mãn điều đó cho người gửi tiền”(Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng, 2007, trang 45). Tiền gửi không kỳ hạn có tỉnh không ổn định và thường được phân thành hai loại hình nhỏ, đó là: - Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): “Tiền gửi để thanh toán được gửi tại ngân hàng với mục đích dùng dể sử dụng giao dịch.
Doanh nghiệp gửi vào ngân hàng nhằm mục đích nhờ ngân hàng giữ hộ và sử dụng trong trong các nghiệp vụ kinh doanh của mình”(Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng, 2007, trang 50). Có thể hiểu rằng, trong nhu cầu thanh toán thì doanh nghiệp đều thực hiện thông qua ngân hàng là chủ yếu. Với lợi ích không nhỏ mà ngân hàng mang lại doanh 8 nghiệp sẽ tiết kiệm những chi phí trong giao dịch mà vẫn đảm bảo được sự nhanh chóng, an toàn và kịp thời trong giao dịch. Thông thường lãi suất cho loại hình rất thấp, và lãi suất không phải mục đích chính của những doanh nghiệp gửi tiền ngân hàng mà họ muốn sử dụng những dịch vụ của ngân hàng với chi phí thấp hoặc miễn phí ở mức độ nhất định.
Tại ngân hàng, có hai loại tài khoản biểu hiện sự bảo quản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng, đó là: “tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai. Thực tế cho thấy hình thức rút tiền cũng như chi trả cho bên thứ ba thường được thực hiện thông qua séc cũng như chuyển khoản. Đây chính là biểu hiện của tài khoản tiền gửi thanh toán. Tài khoản vãng lai là loại tài khoản mà có lúc dư nợ và có lúc dư có.
Với tài khoản vãng lai, nhu cầu vay vốn trong thời gian nhất định có thể được ngân hàng đáp ứng”( Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng, 2007, trang 70). - Tiền gửi không có kỳ hạn thuần tuý:“Tiền gửi không có kỳ hạn thuần túy hay còn gọi là tiền gửi không có kỳ hạn phi giao dịch, được hiểu là các khoản tiền được ký gửi nhằm đảm bảo an toàn tài sản, và các khoản tiền này không có tính chất để phục vụ nhu cầu thanh toán”. Đây được xem là nguồn vốn biến động thường xuyên. * Tiền gửi có kỳ hạn “Tiền gửi có kỳ hạn được hiểu là khoản tiền khách hàng có sự thoả thuận trước về thời hạn rút tiền gửi vào ngân hàng.
Tiền gửi có kỳ hạn thường xuất phát từ tích lũy và được ký thác nhằm hưởng lãi”( Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng, 2007, trang 80). “Tiền gửi có kỳ hạn thường được phân thành tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi báo rút”. Cả hai đều không dùng trong thanh toán và chi trả dựa trên tài khoản vãng lai. Nó có vị trí trung gian, liên kết giữa tiền gửi thanh toán với TGTK.