chương I Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 của Quốc hội có quy định rõ “Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống”. Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương là tổ chức tín dụng hợp tác do các Quỹ tín dụng nhân dân cùng nhau thành lập nhằm mục đích hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (Nghị định số 48/2001/NĐ-CP, 2001). Từ ngày 1/7/2013, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương chuyển đổi thành Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam. Vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân Sự ra đời của Quỹ tín dụng nhân dân bước đầu đã mở ra một kênh huy động và chuyển tải vốn mới, bổ sung và góp phần đa dạng hoá các loại hình tín dụng hoạt động trên địa bàn nông thôn.
Tạo một mô hình tín dụng hợp tác kiểu mới, hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng ngân hàng, góp phần thực hiện có hiệu quả định hướng chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn của Đảng và Chính Phủ đề ra. Quỹ TDND là loại hình tín dụng hợp tác ở nông thôn mà các thành viên của nó vừa là chủ sở hữu vừa là khách hàng. Hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế tư nhân và khu vực dân cư nông thôn bấy lâu nay còn bỏ ngỏ, trống vắng các dịch vụ ngân hàng. Do đó, vị trí Quỹ TDND ngày càng trở lên quan trọng hơn khi sự đòi hỏi cấp thiết vốn sản xuất, kinh doanh dịch vụ và đời sống ngày một gia tăng không ngừng và sự đòi hỏi của hàng triệu người nông dân có những món tiền nhỏ cần gửi tiết kiệm để sinh lời.
Từ những lợi thế của mình, Quỹ TDND sẽ phát huy khả năng huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội, mọi cá nhân để tập trung cho vay phát triển sản xuất kinh doanh (Nguyễn Đình Lưu, 2003). Bằng những hình thức thích hợp, những lợi ích trong các dịch vụ ngân hàng sẽ làm cho nguồn vốn nằm im trở lên sống động hơn, chu chuyển vốn trở lên linh hoạt và hiệu quả lớn nhất là thúc đẩy kinh tế - xã hội nông thôn phát triển, bà con nông dân yên tâm, bởi bên cạnh mình đã có dịch vụ ngân hàng trợ giúp. 6 Quỹ TDND không chỉ tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi tại chỗ mà còn khai thác có hiệu quả các tiềm năng to lớn ở nông thôn như các nguồn lợi về thiên nhiên, nguồn nhân lực ở vùng nông thôn rộng lớn. Trong nhiều năm qua các tiềm năng đó chưa được khai thác đáng kể.
Vấn đề khai thác nó còn phụ thuộc rất lớn vào các nguồn vốn đầu tư của hệ thống tín dụng nông thôn, đặc biệt sự đóng góp của Quỹ TDND sẽ khai thác triệt để các nguồn vốn kết hợp với nguồn nhân lực dồi dào, tác động vào các tài nguyên còn tiềm ẩn tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá cho nền kinh tế. Quỹ TDND góp phần đẩy lùi tín dụng nặng lãi, đa dạng hoá mô hình các TCTD, từng bước hình thành và phát triển thị trường tài chính nông thôn (Quách Thị Cúc, 2003). Sau năm 1990 các HTX tín dụng nông thôn đã bị tan rã, Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam, cùng với các NHTM cổ phần nông thôn mới ra đời, phạm vi hoạt động còn rất hạn hẹp. Lúc này thị trường vốn ở nông thôn gần như bị bỏ ngỏ, các hình thức cho vay nặng lãi hoành hành chính là nhân tố kìm hãm sản xuất ở nông thôn, người nông dân vốn đã nghèo lại càng trở lên kiệt quệ hơn.
Trước tình hình đó, trong nông nghiệp nông thôn đòi hỏi phải hình thành các TCTD dân cư phù hợp với nền kinh tế thị trường. TCTD này vừa đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản xuất, thực hiện một số dịch vụ ngân hàng đồng thời phải có tính tương trợ, tương hỗ để giúp người nông dân thoát khỏi vòng cương toả của tín dụng nặng lãi. Quỹ TDND ra đời bước đầu đã đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân và phát huy vai trò trung gian tài chính ở nông thôn. Bất cứ nơi nào có Quỹ TDND đi vào hoạt động thì ở đó hình thức tín dụng nặng lãi bị thu hẹp, lãi suất thị trường tín dụng không chính thức được kéo xuống.
Luật NHNN, Luật các TCTD, Luật HTX ra đời là cơ sở pháp lý quan trọng, là những định hướng cơ bản cho việc thiết lập cơ chế mới về quản lý kinh doanh tiền tệ. Hệ thống các tổ chức kinh doanh tiền tệ - tín dụng - ngân hàng ở nông thôn nước ta hiện nay, có các NHTM Nhà nước, các NHTM cổ phần, Quỹ TDND. Hệ thống tín dụng này gồm các hình thức sở hữu khác nhau như Nhà nước, tập thể, tư nhân, hỗn hợp các thành phần. Mỗi loại có thế mạnh riêng, chúng đan xen lẫn nhau trong quá trình hoạt động.
Quỹ TDND là loại hình mới được xây dựng thí điểm đi vào hoạt động chưa lâu nhưng nó đã khẳng định được những ưu thế của một TCTD ở nông thôn. Mô hình này có thể mở rộng xuống hầu hết các thôn, xã phục vụ việc huy động, cho vay rất thuận tiện. Bởi vậy, việc tham gia của các 7 Quỹ TDND vào thị trường vốn ở nông thôn đã góp phần hoàn thiện thêm những ưu điểm vốn có và khắc phục các mặt còn hạn chế của mỗi TCTD, tạo nên một hệ thống TCTD được cấu trúc bởi nhiều mô hình khác nhau về chế độ sở hữu, về quy mô và phạm vi hoạt động, về trình độ công nghệ sẽ góp phần tạo nên một thị trường tài chính thật sự sống động và thông suốt ở khu vực nông thôn rộng lớn (Ngô Văn Dần, 2012). Hoạt động của các Quỹ TDND góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.
Như chúng ta đã biết nông nghiệp, nông thôn là một lĩnh vực rộng lớn và là một ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Sự phát triển nông nghiệp không thể tách rời sự phát triển của ngành kinh tế khác. Nhưng lâu nay khu vực này chưa được quan tâm đúng mức, nên từ khi đất nước bước vào cải cách mở cửa phát triển kinh tế đến nay, nông nghiệp nông thôn biến đổi rất chậm. Việc phát triển nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay đòi hỏi rất nhiều yếu tố, trong đó vốn sản xuất kinh doanh là vấn đề vô cùng quan trọng.
Sự ra đời của Quỹ TDND đó góp phần đưa các dịch vụ ngân hàng vào nông nghiệp nông thôn, đáp ứng những đòi hỏi về vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh ở khu vực này. Mô hình Quỹ TDND do chính người nông dân tham gia thành lập và xây dựng lên, sẽ tích cực phục vụ trở lại chính họ, đồng thời khai thác hết những tiềm năng của nông nghiệp, nông thôn (Lê Minh Hồng, 2003). Có đủ vốn cho sản xuất nông nghiệp, nông thôn sẽ thúc đẩy việc mở rộng các hoạt động phi nông nghiệp, nông thôn. Kết quả là tạo sự di chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, trong khi vẫn không thay đổi địa bàn cũ là nông thôn, không tạo sự di chuyển lao động theo địa lý.
Thông qua hoạt động Quỹ TDND để giúp các hộ nông dân sản xuất kinh doanh, kiểm soát hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao trình độ hạch toán kinh tế. Quỹ TDND hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống. Do vậy, mọi quan hệ vay, gửi vốn giữa khách hàng với Quỹ TDND đều phải hoàn trả cả gốc và lãi đầy đủ theo thời hạn nhất định, điều đó đòi hỏi phải sử dụng vốn vay có hiệu quả (Lê Minh Hồng, 2003). Nghĩa là thông qua các hoạt động vay vốn và trả nợ của Quỹ TDND, các hộ nông dân phải suy nghĩ, cân nhắc, hạch toán, tiết kiệm chi phí để với số vốn đầu tư nhỏ nhất, chi phí ít nhất, nhưng thu được lãi lớn nhất và thực sự đứng vững trong cơ chế thị trường.
Đồng 8 thời, thông qua công tác thẩm định cho vay, kiểm tra việc sử dụng vốn, chăm sóc thành viên của các Qũy TDND đã có tác dụng kiểm soát tính hiệu quả của sản xuất kinh doanh, tư vấn thêm cách quản lý, hạch toán kinh doanh cho từng hộ thành viên. Đặc điểm hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân Quỹ TDND được xây dựng trên địa bàn xã, liên xã, phường, liên phường, cụm kinh tế có đủ điều kiện. Là một tổ chức kinh tế và cũng là một tổ chức xã hội hoạt động trên cùng địa bàn, có cùng tập quán, quan hệ gần gũi thân thiết. Mỗi Quỹ TDND là một đơn vị độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, là nơi thực hiện mọi giao dịch giữa khách hàng và thành viên.
Quỹ TDND là loại hình tổ chức và hoạt động theo mô hình kinh tế hợp tác với mục tiêu là hỗ trợ thành viên về vấn đề dịch vụ tín dụng, ngân hàng. Đây là mục tiêu chủ yếu của Quỹ TDND, không theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận mà mục tiêu của họ là tối đa hóa lợi ích của các thành viên (Nghị định số 42/1997/NĐ-CP, 1997). Mặt khác thành viên vừa là chủ sở hữu vừa là khách hàng do đó cần phải đảm bảo bình đẳng giữa họ. Qũy TDND phải được tổ chức và hoạt động theo mô hình HTX để thành viên trong quỹ đều được tham gia quản lý, giám sát.
Quỹ TDND do các thành viên cùng nhau tham gia góp vốn để được cung cấp các dịch vụ thuận tiện nhất chính vì thế việc hỗ trợ thành viên trong lâu dài phải được đặt lên hàng đầu cùng với chất lượng tốt hơn, chi phí, lãi suất hợp lý hơn. Để thực hiện được các mục tiêu trên, Quỹ TDND phải tạo ra được các dịch vụ tín dụng, ngân hàng, đáp ứng được các dịch vụ này cho các thành viên và đảm bảo được hoạt động lâu dài. Muốn thực hiện được điều đó, Quỹ TDND cần định hướng thực hiện đồng thời ba mục tiêu hoạt động phải luôn đảm bảo khả năng chi trả, an toàn và phải sinh lời.