Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Diệu được thực hiện trong bối cảnh Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) đẩy mạnh triển khai phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Hình thức đào tạo này đòi hỏi việc chuyển dịch căn bản từ phương pháp giảng dạy truyền thống sang đề cao năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên, biến hệ thống thư viện và phòng tư liệu chuyên ngành trở thành "người thầy thứ hai". Tại thời điểm nghiên cứu, toàn trường có 14 khoa và 2 bộ môn trực thuộc; trong đó, Phòng Tư liệu Khoa Lịch sử là đơn vị có lịch sử hình thành lâu đời nhất, lưu giữ khối lượng tài liệu chuyên ngành phong phú và có giá trị cao. Tuy nhiên, trước sự gia tăng nhanh chóng và biến đổi đa dạng về nhu cầu thông tin của cán bộ, học viên và sinh viên, công tác tổ chức, xử lý nghiệp vụ và cung cấp dịch vụ thông tin của phòng tư liệu vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, chưa đáp ứng hiệu quả yêu cầu thực tế.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ công tác tổ chức hoạt động của Phòng Tư liệu Khoa Lịch sử thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Phạm vi thời gian: Thực trạng tổ chức hoạt động của phòng tư liệu trong giai đoạn 2009 - 2010.
- Phạm vi không gian: Không gian vật chất và các khâu nghiệp vụ thông tin - thư viện tại Phòng Tư liệu Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể:
- Khảo sát, thu thập số liệu và phân tích thực trạng công tác tổ chức hoạt động thông tin - tư liệu tại đơn vị, bao gồm vốn tài liệu, cơ sở vật chất, các khâu xử lý kỹ thuật và các dịch vụ phục vụ người dùng tin.
- Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong hoạt động nghiệp vụ của phòng tư liệu.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, đáp ứng tối đa nhu cầu thông tin phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của Khoa Lịch sử.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng lập luận dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp với các quan điểm, chủ trương, chính sách chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triển sự nghiệp thông tin - thư viện và giáo dục đại học. Về mặt nghiệp vụ thư viện học, nghiên cứu vận dụng các chuẩn mực và công cụ chuyên môn quốc tế đang được áp dụng tại Việt Nam:
- Tiêu chuẩn mô tả thư mục quốc tế ISBD (The International Standard Bibliographic Description) với cấu trúc 8 vùng mô tả thông tin tài liệu.
- Khung phân loại thập tiến Dewey (DDC - Dewey Decimal Classification) với 10 lớp chính (từ lớp 000 đến 900) để phân loại nội dung tài liệu.
- Hệ quản trị cơ sở dữ liệu CDS/ISIS for Windows (WINISIS) do UNESCO phát triển và cung cấp miễn phí cho các thư viện tại Việt Nam.
Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp thu thập và xử lý thông tin cụ thể:
- Phương pháp quan sát trực tiếp: Theo dõi quy trình tiếp nhận, xử lý, bảo quản tài liệu và phục vụ bạn đọc tại chỗ.
- Phương pháp thống kê: Tổng hợp số lượng các chủng loại tài liệu, trang thiết bị kỹ thuật và lưu lượng bạn đọc đến thư viện.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Tác giả phát ra 210 phiếu khảo sát nhu cầu và mức độ sử dụng thông tin, thu về 200 phiếu hợp lệ từ các nhóm người dùng tin.
- Phương pháp phỏng vấn, trao đổi và mạn đàm: Thu thập ý kiến trực tiếp từ cán bộ quản lý khoa, cán bộ phụ trách phòng tư liệu và độc giả.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Khảo sát các báo cáo nội bộ, sổ đăng ký cá biệt, danh mục tài liệu và các văn bản liên quan của đơn vị.
Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm số liệu thống kê nghiệp vụ của Khoa Lịch sử đến hết năm 2009, dữ liệu quản lý mượn trả từ tháng 9/2009 đến tháng 5/2010, cùng kết quả khảo sát thực tế từ 200 độc giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Phòng Tư liệu Khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn với sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học
Chương 1 khái quát chặng đường hơn 50 năm phát triển của Khoa Lịch sử (thành lập năm 1956 tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội) và Phòng Tư liệu gắn liền với lịch sử của Khoa. Khoa từng trải qua các giai đoạn sơ tán trong chiến tranh (năm 1965, 1971, 1972) và tiếp quản nhiều kho tư liệu có giá trị từ Viện Viễn Đông Bác Cổ, Đông Dương đại học, Bảo tàng Lịch sử và Ban Nghiên cứu Văn - Sử - Địa. Về quy mô, Khoa đã đào tạo trên 7.000 sinh viên, hơn 200 thạc sĩ và hơn 100 tiến sĩ. Đội ngũ cán bộ của Khoa gồm 43 giảng viên và nghiên cứu sinh, với cơ cấu trình độ học vị:
| Trình độ học vị |
Số lượng (người) |
Tỷ lệ (%) |
| Tiến sĩ |
16 |
37,0% |
| Thạc sĩ |
14 |
32,5% |
| Cử nhân |
5 |
12,0% |
| Đang là nghiên cứu sinh |
8 |
18,5% |
| Tổng cộng |
43 |
100% |
Về tổ chức, Phòng Tư liệu trực thuộc Ban Chủ nhiệm Khoa, gồm bộ phận nghiệp vụ và bộ phận phục vụ. Tuy nhiên, tính đến đầu năm 2009, phòng mới có 01 cán bộ chuyên trách có bằng cử nhân ngành Thông tin - Thư viện, đồng thời cán bộ này phải kiêm nhiệm vị trí trợ lý đào tạo sau đại học của Khoa.
Kết quả điều tra 200 phiếu hợp lệ về cơ cấu người dùng tin tại đơn vị cho thấy:
- Sinh viên: 145 người (72,5%), gồm 20 nam và 125 nữ.
- Cán bộ giảng dạy: 25 người (12,5%), gồm 10 nam và 15 nữ.
- Học viên cao học: 26 người (13,0%), gồm 12 nam và 14 nữ.
- Nghiên cứu sinh: 4 người (2,0%), gồm 2 nam và 2 nữ.
Tác giả luận giải sâu sắc vai trò của hoạt động thông tin - tư liệu tại đơn vị trong việc chuyển đổi phương pháp dạy học đại học: chuyển từ thuyết giảng một chiều sang hướng dẫn người học tự tra cứu và thảo luận; thay đổi phương pháp học tập qua việc rèn luyện năng lực phân tích tổng hợp; và chuyển đổi hình thức đánh giá sinh viên dựa trên quá trình tích lũy học phần thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào bài thi cuối kỳ.
Chương 2: Hiện trạng công tác tổ chức hoạt động của Phòng Tư liệu Khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chương này tập trung phản ánh chi tiết toàn bộ các mặt nghiệp vụ thực tế của đơn vị:
1. Vốn tài liệu và công tác phát triển nguồn tin: Khoảng 80% vốn tài liệu mang nội dung chuyên ngành lịch sử, phần còn lại bao quát các lĩnh vực Triết học, Tôn giáo, Văn hóa học, Khảo cổ học. Tài liệu truyền thống chiếm 90% tổng số tài liệu. Thống kê số lượng sách chuyên ngành gồm:
| STT |
Phân loại sách |
Số lượng (cuốn) |
| 1 |
Sách Hán Nôm |
5.000 |
| 2 |
Sách lịch sử chép tay (lịch sử - tư liệu) |
2.200 |
| 3 |
Sách lịch sử thế giới viết bằng tiếng Anh |
2.000 |
| 4 |
Sách Lịch sử Việt Nam chung |
899 |
| 5 |
Sách lịch sử nói chung |
800 |
| 6 |
Sách phục vụ sinh viên chất lượng cao (nội dung Lịch sử chung) |
750 |
| 7 |
Sách chuyên ngành Văn hóa học |
326 |
| 8 |
Sách chuyên ngành Lịch sử Đảng |
322 |
| 9 |
Sách lịch sử thế giới viết bằng tiếng Việt |
312 |
| 10 |
Sách phục vụ sinh viên chất lượng cao (nội dung Lịch sử thế giới) |
200 |
| 11 |
Tài liệu viết bằng tiếng Nga |
200 |
| 12 |
Sách chuyên ngành Khảo cổ học |
95 |
Bên cạnh sách, phòng tư liệu lưu giữ 16 tên tạp chí chuyên ngành (như Khảo cổ học, Hán Nôm, Lịch sử Đảng, Lịch sử quân sự, Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Tôn giáo, Xưa & Nay, Tạp chí Cộng sản...). Nguồn tài liệu xám (tài liệu nội sinh) gồm 2.726 tên, trong đó có 2.430 khóa luận tốt nghiệp cử nhân, 160 luận án tiến sĩ và 136 luận văn thạc sĩ. Kho tài liệu tra cứu có 170 bản (24 cuốn Hồ Chí Minh toàn tập, 55 cuốn Lê-nin toàn tập, 43 cuốn Văn kiện Đảng, cùng 40 cuốn từ điển, niên giám, văn kiện).
Công tác bổ sung tài liệu chủ yếu dựa vào nguồn biếu tặng từ các nhà khoa học, thu nhận khóa luận, luận văn và nguồn mua kinh phí cấp hàng năm. Phòng thực hiện quy trình thanh lý đối với tài liệu ít giá trị lịch sử, tài liệu trùng lặp nhiều bản theo phê duyệt của Ban Chủ nhiệm Khoa.
2. Cơ sở vật chất và ứng dụng tin học: Phòng tư liệu được bố trí thành 3 phòng (diện tích mỗi phòng khoảng 30m²): phòng nghiệp vụ và phục vụ bạn đọc; phòng lưu trữ luận văn, luận án, khóa luận và sách Lịch sử Việt Nam; phòng sách lịch sử - tư liệu và các chuyên ngành khác. Trang thiết bị gồm khoảng 10 giá sách bằng gỗ, 10 tủ sách tổng hợp, 7 tủ khóa dành cho sách lớp chất lượng cao, 7 tủ khóa cho sách Hán Nôm và tiếng Nhật, 01 máy điều hòa, hệ thống quạt và 01 máy vi tính kết nối Internet. Về tin học hóa, phòng sử dụng phần mềm CDS/ISIS for Windows để quản trị cơ sở dữ liệu dạng văn bản có cấu trúc. Tuy nhiên, tính đến thời điểm khảo sát, cơ sở dữ liệu điện tử mới xây dựng được khoảng 400 biểu ghi (160 biểu ghi luận văn thạc sĩ, 150 biểu ghi khóa luận tốt nghiệp và một phần sách Lịch sử Việt Nam), chủ yếu phục vụ tra cứu nội bộ cho cán bộ giảng viên.
3. Xử lý kỹ thuật và tổ chức lưu trữ:
- Xử lý hình thức: Tài liệu được nhập vào máy tính, đóng dấu thư viện, ghi số đăng ký cá biệt ở trang tên sách và trang 17, dán nhãn Ký hiệu xếp giá (KHXG). Mô tả thư mục thực hiện theo quy tắc ISBD với 8 vùng mô tả. Các ký hiệu xếp giá quy ước gồm:
CLC-V (chất lượng cao tiếng Việt), KCH-V (Khảo cổ học), KL-CN (khóa luận cử nhân), LA-TS (luận án tiến sĩ), LSĐ-V (Lịch sử Đảng), LSVN (Lịch sử Việt Nam), LS-TL (lịch sử chép tay), LSTG-H (Lịch sử thế giới chữ Hán), LSTG-N (tiếng Nga), LSTG-V (tiếng Việt), LV-ThS (luận văn thạc sĩ), VHH-DT (Văn hóa học).
- Xử lý nội dung: Phân loại theo khung DDC 10 lớp chính; định từ khóa theo phương pháp tự do. Khâu tóm tắt tài liệu chưa được triển khai.
- Tổ chức kho và bảo quản: Tổ chức theo mô hình kho kín. Bạn đọc tra phích và yêu cầu thủ thư lấy tài liệu. Bảo quản bằng tủ gỗ, có biện pháp che chắn chống bụi bẩn, côn trùng (mối mọt, gián, chuột) và độ ẩm.
4. Phục vụ người dùng tin:
Hệ thống tra cứu gồm bộ máy truyền thống (hộp phích khoảng 10.000 phiếu do Thư viện Quốc gia lập, mục lục dạng sách in danh mục khóa luận K47 - K50) và bộ máy điện tử qua CDS/ISIS. Đánh giá của bạn đọc về mức độ thuận tiện của các công cụ tra cứu:
| Hệ thống tra cứu |
Dễ tra cứu |
Khó tra cứu |
Rất khó |
| Mục lục điện tử |
90% |
5% |
5% |
| Hệ thống mục lục chữ cái |
60% |
35% |
5% |
| Hệ thống mục lục phân loại |
65% |
30% |
5% |
Từ tháng 9/2009 đến tháng 5/2010, phòng tư liệu ghi nhận 1.200 lượt bạn đọc: sinh viên chiếm 900 lượt (75%), cán bộ giảng dạy 150 lượt (12,5%), học viên cao học và nghiên cứu sinh 100 lượt (8,3%), bạn đọc ngoài khoa 50 lượt (4,2%).
Về quy chế: Thời gian mở cửa từ 8h-11h và 14h-17h các ngày làm việc (nghỉ sáng thứ Hai, chiều thứ Tư và chiều thứ Sáu). Hành vi tự ý mang tài liệu ra khỏi phòng bị phạt 50.000 đồng. Độc giả ngoài khoa đóng phí 60.000 đồng/năm (hoặc 10.000 đồng/lượt đọc). Tài liệu chép tay (LS-TL) đã xuống cấp chỉ được phục vụ đọc tại chỗ. Mượn về nhà chỉ áp dụng cho sinh viên chất lượng cao (tối đa 3 cuốn, thời hạn 1 tuần, gia hạn 3 ngày, quá hạn phạt 1.000 đồng/ngày) và cán bộ trong khoa (tối đa 5 cuốn, thời hạn không quá 3 tháng). Dịch vụ photocopy có mức thu 350 đồng/trang (không cho phép photo tài liệu chép tay, đánh máy).
Tỷ lệ sử dụng dịch vụ tại phòng tư liệu so với thư viện trường: đọc tại chỗ đạt 100% (ngang bằng thư viện trường), mượn về nhà đạt 60% (so với 100% tại trường), sao chụp đạt 50% (so với 70% tại trường).
Chương 3: Một số nhận xét, kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Phòng Tư liệu Khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tác giả đánh giá tổng thể các ưu điểm: sở hữu nguồn tài liệu phong phú, đặc thù và quý hiếm; có mối liên kết giao lưu tốt để tiếp nhận tài trợ, trao đổi tư liệu; cơ sở vật chất tương đối bảo đảm; đã có cán bộ chuyên môn thư viện phụ trách; công tác sắp xếp kho khoa học và bước đầu ứng dụng phần mềm WINISIS. Song song đó là các hạn chế về diện tích, nhân lực kiêm nhiệm và tiến độ tin học hóa.
Từ thực trạng trên, tác giả đề xuất 7 nhóm giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả:
- Tăng cường vốn tài liệu: Mở rộng các kênh trao đổi tài liệu với Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, tiếp nhận tài trợ quốc tế và thu thập triệt để tài liệu xám nội sinh (báo cáo khoa học, kỷ yếu hội nghị).
- Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất: Mở rộng diện tích kho tàng, trang bị thêm máy vi tính phục vụ độc giả trực tiếp tra cứu và nâng cấp hệ thống giá tủ chuyên dụng.
- Nâng cao trình độ cán bộ công tác thông tin - tư liệu: Tạo điều kiện cho cán bộ tham gia các khóa bồi dưỡng công nghệ thông tin thư viện, chuẩn hóa chức danh chuyên trách, tránh kiêm nhiệm công tác quản lý đào tạo.
- Chú trọng công tác bảo quản tài liệu: Đầu tư các phương tiện hút ẩm, phòng trừ côn trùng, nấm mốc và có kế hoạch số hóa hoặc phục chế các tập tài liệu chép tay, bản thảo Hán Nôm quý giá đang xuống cấp.
- Hoàn thiện hệ thống tra cứu: Đẩy nhanh tiến độ nhập biểu ghi vào phần mềm CDS/ISIS, xây dựng danh mục mục lục trực tuyến để phục vụ tra cứu diện rộng.
- Đào tạo người dùng tin: Hướng dẫn kỹ năng tra cứu cho sinh viên ngay từ đầu khóa học, phổ biến quy tắc khai thác tài liệu chuyên ngành.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện: Đa dạng hóa các sản phẩm thư mục chuyên đề, mở rộng dịch vụ sao chụp và linh hoạt hóa chính sách cho mượn tài liệu.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã phản ánh trung thực và toàn diện bức tranh hoạt động của Phòng Tư liệu Khoa Lịch sử qua hệ thống dữ liệu xác thực:
- Khái quát quy mô kho tư liệu với hơn 13.000 cuốn sách chuyên ngành (trong đó có 5.000 cuốn Hán Nôm, 2.200 cuốn chép tay, 2.000 cuốn tiếng Anh), 16 chuyên san tạp chí và 2.726 công trình tài liệu xám nội sinh.
- Phản ánh chính xác lưu lượng 1.200 lượt độc giả trong năm học 2009 - 2010 với 75% là sinh viên đại học.
- Đánh giá hiện trạng hạ tầng kỹ thuật: diện tích khoảng 90m² (chia 3 phòng), 01 máy vi tính vận hành phần mềm CDS/ISIS for Windows với cơ sở dữ liệu bước đầu gồm 400 biểu ghi.
Về đóng góp học thuật và thực tiễn:
- Về lý luận: Khóa luận góp phần bổ sung, hoàn thiện các vấn đề lý luận về vai trò, vị trí và phương thức tổ chức hoạt động thông tin - tư liệu tại các đơn vị cấp khoa chuyên ngành trong các trường đại học định hướng nghiên cứu.
- Về thực tiễn: Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về thực trạng tổ chức và hoạt động của Phòng Tư liệu Khoa Lịch sử. Hệ thống 7 nhóm giải pháp được đề xuất xuất phát từ khảo sát thực tế, có tính ứng dụng trực tiếp đối với công tác quản lý của Ban Chủ nhiệm Khoa Lịch sử và cán bộ phụ trách phòng tư liệu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế do văn bản tự xác định và giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Do tác giả là sinh viên bước đầu nghiên cứu khoa học, phạm vi khảo sát mới chỉ tập trung tại một cơ sở thực địa duy nhất là Phòng Tư liệu Khoa Lịch sử tại thời điểm năm 2009 - 2010.
- Khâu xử lý nội dung tài liệu tại phòng tư liệu khi đó chưa triển khai nghiệp vụ tóm tắt nội dung; việc định từ khóa còn áp dụng phương pháp tự do mang tính chủ quan của người làm nghiệp vụ.
- Dữ liệu ứng dụng tin học hóa mới chỉ ở giai đoạn đầu với 400 biểu ghi trên CDS/ISIS và chưa mở rộng cho sinh viên trực tiếp tra cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát so sánh hoạt động của hệ thống phòng tư liệu giữa các khoa chuyên ngành trong Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; nghiên cứu mô hình chuyển đổi số, liên thông cơ sở dữ liệu giữa phòng tư liệu cấp khoa với Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Giảng viên và sinh viên ngành Thông tin - Thư viện: Cung cấp nghiên cứu điển hình (case study) về việc vận hành một phòng tư liệu chuyên ngành lịch sử, quy trình áp dụng các chuẩn nghiệp vụ thư viện truyền thống (ISBD, DDC, hệ thống phích mục lục) song hành với phần mềm CDS/ISIS for Windows.
- Cán bộ quản lý thư viện và ban chủ nhiệm các khoa đại học: Cung cấp mô hình khảo sát nhu cầu bạn đọc, phương thức xây dựng nội quy lưu thông tài liệu đặc thù và các giải pháp quản lý tài liệu nội sinh (khóa luận, luận văn, luận án).
- Các nhà nghiên cứu lịch sử: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về thành phần vốn tài liệu chuyên ngành tại Khoa Lịch sử, đặc biệt là thông tin phân bố các bộ sưu tập quý hiếm như tài liệu Hán Nôm, tài liệu chép tay và các ấn phẩm trước năm 1956.
Câu hỏi thường gặp
Khối tài liệu đặc thù và quý hiếm nhất đang được lưu trữ tại Phòng Tư liệu Khoa Lịch sử gồm những gì?
Phòng tư liệu lưu giữ 5.000 cuốn sách Hán Nôm và 2.200 cuốn sách lịch sử chép tay (tài liệu - lịch sử). Ngoài ra, phòng còn lưu trữ 2.726 tên tài liệu xám (gồm 2.430 khóa luận cử nhân, 160 luận án tiến sĩ, 136 luận văn thạc sĩ) cùng các tài liệu kế thừa từ kho sách Trường Đại học Đông Dương, Bảo tàng Lịch sử và Viện Viễn Đông Bác Cổ.
Cơ sở dữ liệu điện tử của phòng tư liệu được xây dựng bằng phần mềm nào và tiến độ đến đâu?
Phòng tư liệu sử dụng phần mềm CDS/ISIS for Windows do UNESCO tài trợ miễn phí. Tại thời điểm nghiên cứu, cơ sở dữ liệu mới xây dựng được khoảng 400 biểu ghi (gồm 160 luận văn thạc sĩ, 150 khóa luận tốt nghiệp và một phần sách Lịch sử Việt Nam), mới chỉ phục vụ công tác tra cứu của cán bộ giảng viên mà chưa mở rộng cho sinh viên.
Chính sách mượn tài liệu về nhà và sao chép tài liệu tại phòng tư liệu được quy định cụ thể như thế nào?
Phòng tư liệu không áp dụng hình thức mượn về nhà cho sinh viên hệ chuẩn. Chính sách mượn về nhà chỉ áp dụng cho sinh viên hệ chất lượng cao (tối đa 3 tài liệu trong 1 tuần, gia hạn thêm 3 ngày, quá hạn phạt 1.000 đồng/ngày) và cán bộ trong khoa (tối đa 5 tài liệu trong 3 tháng). Dịch vụ sao chép có lệ phí 350 đồng/trang; tài liệu đánh máy, chép tay đã xuống cấp nghiêm ngặt không được sao chụp và chỉ phục vụ đọc tại chỗ. Độc giả ngoài khoa phải nộp phí thường niên 60.000 đồng/năm hoặc phí lượt 10.000 đồng.
Tỷ trọng các nhóm bạn đọc thực tế tại đơn vị phân bố như thế nào?
Theo kết quả điều tra 200 phiếu, sinh viên là nhóm bạn đọc đông nhất chiếm 72,5%, học viên cao học chiếm 13%, cán bộ giảng dạy chiếm 12,5% và nghiên cứu sinh chiếm 2%. Về lưu lượng phục vụ thực tế từ tháng 9/2009 đến tháng 5/2010 (tổng số 1.200 lượt), sinh viên chiếm 75% (900 lượt), cán bộ chiếm 12,5% (150 lượt), học viên cao học và nghiên cứu sinh chiếm 8,3% (100 lượt), bạn đọc ngoài khoa chiếm 4,2% (50 lượt).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Diệu đã tái hiện một cách hệ thống, khoa học thực trạng công tác tổ chức và hoạt động của Phòng Tư liệu Khoa Lịch sử thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Công trình cung cấp hệ thống số liệu cụ thể về cơ cấu vốn tài liệu, hạ tầng trang thiết bị, nhân sự và các khâu kỹ thuật nghiệp vụ thư viện tại một đơn vị tư liệu cấp khoa có bề dày truyền thống. Trên cơ sở nhận diện rõ những điểm mạnh và hạn chế trong công tác phục vụ bạn đọc dưới tác động của hình thức đào tạo tín chỉ, khóa luận đã đề xuất 7 nhóm giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm tối ưu hóa hiệu quả hoạt động thông tin - tư liệu của cơ sở.