Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện. Chương 2: Các yếu tố ảnh hưởng và thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện qua thực tiễn huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Quan điểm, kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa. 7 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1.
Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp huyện trong tổ chức bộ máy Nhà nƣớc của Việt Nam 1. Vị trí của Hội đồng nhân dân cấp huyện Trở lại tiến trình lịch sử của dân tộc, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến việc tổ chức bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương để quản lý xã hội và kháng chiến, kiến quốc. Theo đó, ngày 22/11/1945, thay mặt Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 63/SL về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp. Tại Sắc lệnh này, vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân đã được quy định tại Điều thứ nhất: "Để thực hiện chính quyền nhân dân địa phương trong nước Việt Nam, sẽ đặt hai thứ cơ quan: Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính.
Hội đồng nhân dân do Nhân dân bầu ra theo lối phiếu phổ thông và trực tiếp đầu phiếu là cơ quan thay mặt cho dân". Theo đó, Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, được Nhân dân trực tiếp bầu ra. Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Đảng và nhà nước ta đã quan tâm đến việc xây dựng, củng cố và phát triển Hội đồng nhân dân. Theo đó, Hội đồng nhân dân đã làm được nhiều việc ích nước, lợi dân, đã thể hiện được vai trò là cơ quan đại biểu của Nhân dân, là chỗ dựa vững chắc để Nhân dân xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng ngày càng lớn mạnh.
Để đáp ứng với yêu cầu thực tiễn, phát triển đi lên của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử, mô hình Hội đồng nhân dân ngày càng hoàn thiện; địa vị pháp lý của Hội đồng nhân dân ngày càng được đề cao, là cơ quan dân cử ở địa phương, đại diện cho Nhân dân địa phương, thực hiện chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương và giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên 8 z địa bàn. Theo đó, Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013 đều có quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và được cụ thể hóa tại Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 [48]. Tại Hiến pháp năm 2013 quy định: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên" [45, Điều 113]. Và tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: "Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên".
Tại Khoản 2 Điều 6 quy định: " Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước Hội đồng nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình". Như vậy, Hội đồng nhân dân cấp huyện có vị trí, vai trò quan trọng trong bộ máy chính quyền địa phương, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương và giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp theo đúng quy định của pháp luật. Tính chất quyền lực nhà nước của Hội đồng nhân dân cấp huyện thể hiện ở chỗ đây là cơ quan nhà nước ở địa phương (trong phạm vi địa giới hành chính nhất định), được thành lập bởi các đại biểu do Nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ Nhân dân. Thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước, quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương; biến ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương thành quy phạm pháp luật (Nghị quyết) mang tính chất bắt buộc đối với tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan 9 z trong phạm vi địa phương mình.
Căn cứ vào pháp luật, có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi miễn các chức danh thuộc Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân cùng cấp, đồng thời cũng có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Hội đồng nhân dân bầu ra. Đồng thời có quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân để đảm bảo Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân được thực hiện nghiêm túc trong thực tiễn…vv. Tính chất đại diện của Hội đồng nhân dân cấp huyện thể hiện ở chỗ Hội đồng nhân dân là cơ quan do cử tri ở địa phương bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Về mặt hình thức, tính chất đại diện của Hội đồng nhân dân huyện được thể hiện rõ nét nhất ở vấn đề cơ cấu đại biểu trong Hội đồng nhân dân.
Hội đồng nhân dân các cấp có một số lượng đại biểu nhất định đại diện cho nữ giới, người dân tộc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân và các cơ quan Nhà nước khác đóng tại địa phương. Điều này có nghĩa, Hội đồng nhân dân không đại diện cho một Đảng phái, tổ chức nào mà đại diện cho toàn thể Nhân dân; thành phần trong Hội đồng nhân dân huyện thể hiện khối đại đoàn kết của toàn dân sống trong địa phương đó. Tính chất đại diện của Hội đồng nhân dân khác với tính chất đại diện của Quốc hội. Tại Điều 69, Hiến pháp 2013 quy định "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam"; Khoản 1 Điều 79 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định" Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước ".
Còn Hội đồng nhân dân là cơ quan chỉ đại diện cho Nhân dân địa phương bầu ra mình, đồng thời chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương đó và cơ quan Nhà nước cấp trên. Bằng các hoạt động như tiếp xúc cử tri, giám sát, khảo sát, tiếp công dân, kiến nghị chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo… các đại biểu Hội đồng nhân dân thường xuyên lắng nghe, thu thập các ý kiến, kiến nghị, phản ánh của cử tri, Nhân dân và chuyển đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xem xét, giải quyết. Thường xuyên đôn đốc các cơ quan hữu quan, người có thẩm 10 z quyền phải nghiên cứu để giải quyết thỏa đáng những vấn đề mà cử tri, Nhân dân kiến nghị. Trên cơ sở đó, Hội đồng nhân dân thay mặt Nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, bảo đảm những quyết định đó thể hiện được ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, phù hợp với lòng dân và tuân thủ nghiêm Hiến pháp, pháp luật.
Để cụ thể hóa Điều 110, 111 Hiến pháp 2013, tại Khoản 1, Điều 4 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định" Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 2 của Luật này". Theo đó, Hội đồng nhân dân được hình thành ở ba cấp đó là cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Hội đồng nhân dân cấp huyện là cơ quan đại diện cho Nhân dân địa phương trong huyện, do Nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Vì vậy, Hội đồng nhân dân cấp huyện có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp quyết định những vấn đề trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh ở địa phương và giám sát hoạt động tuân theo Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân theo đúng quy định của pháp luật.
Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp huyện Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, bộ máy chính quyền địa phương ngày càng được hoàn thiện theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, lấy đối tượng là tổ chức, doanh nghiệp và Nhân dân để phục vụ; sự hài lòng của tổ chức, doanh nghiệp và Nhân dân là thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Tại mục 2, Chương II Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 có quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp huyện (từ điều 19 đến điều 28), theo đó Hội đồng nhân dân cấp huyện quyết định các nhiệm vụ trên các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, dân tộc, tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính.