CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 1.1 Khái quát về Dịch vụ giao nhận, người giao nhận Vận chuyển hàng hóa quốc tế là một bộ phận cấu thành quan trọng của buôn bán quốc tế, đây là một khâu không thể thiếu trong quá trình lưu thông nhằm đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Vậy dịch vụ giao nhận là gì? + Theo Quy tắc mẫu của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA): “Dịch vụ giao nhận là bất cứ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hoặc có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa”. (Nguyễn Xuân Quyết, 2017) + Theo Điều 233, Luật Thương mại Việt Nam 2005: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận của khách hàng để hưởng thù lao”. (Nguyễn Xuân Quyết , 2017) - Người giao nhận: Người kinh doanh dịch vụ giao nhận gọi là “Người giao nhận – Forwarder – Freight Forwarder – Forwarding Agent”.
Người giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, công ty xếp dỡ hay kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ một người nào khác.2 Đặc điểm của dịch vụ giao nhận - Đặc điểm của dịch vụ giao nhận + Không tạo ra sản phẩm vật chất: dịch vụ giao nhận chỉ làm cho đối tượng thay đổi vị trí về mặt không gian chứ không tác động về mặt kỹ thuật làm thay đổi các đối tượng đó. + Mang tính thụ động: do dịch vụ giao nhận phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của khách hàng, các ràng buộc về pháp lý, thể chế của Chính phủ (nước xuất khẩu, nước nhập khẩu, nước thứ ba). 1 Downloaded by ANH BACH (bachvan15@gmail.com) lOMoARcPSD|39150642 + Mang tính thời vụ: dịch vụ giao nhận phụ thuộc rất lớn vào lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Mà hoạt động xuất nhập khẩu mang tính thời vụ nên hoạt động giao nhận cũng chịu ảnh hưởng của tính thời vụ.
- Ngoài ra, dịch vụ giao nhận còn phụ thuộc nhiều vào cơ sở vật chất kỹ thuật và kinh nghiệm – trình độ của người giao nhận.a người làm dịch vụ giao nhận khác - gọi chung là khách hàng.3 Vai trò của giao nhận hàng hóa 1.1 Vai trò của dịch vụ giao nhận Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu + Dịch vụ giao nhận giúp cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chưa có kinh nghiệm giảm thiểu được rủi ro, tiết kiệm, đảm bảo thời gian thực hiện giao nhận với hãng tàu. + Dịch vụ giao nhận giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bớt các chi phí không cần thiết như: chi phí xây dựng kho tàng bến bãi của người giao nhận (hay do người giao nhận thuê), giảm chi phí đào tạo nhân công. + Dịch vụ giao nhận làm giảm giá thành hàng hoá xuất nhập khẩu. + Dịch vụ giao nhận giúp tận dụng được một cách tối đa và có hiệu quả dung tích và tải trọng của các phương tiện vận tải, các công cụ vận tải, cũng như các phương tiện h̀ trợ khác.
Đối với sự phát triển ngành thương mại quốc tế + Dịch vụ giao nhận quốc tế góp phần rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các quốc gia, góp nhần thúc đẩy mậu dịch quốc tế phát triển. + Dịch vụ giao nhận giúp rút ngắn thời gian mua bán hàng hóa, tạo điều kiện cho hàng hoá lưu thông nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm, mà không cần có sự tham gia hiện diện của người gửi cũng như người nhận vào tác nghiệp.2 Vai trò của người giao nhận Môi giới hải quan (Customs Broker), Người giao nhận thay mặt người xuất - nhập khẩu để khai báo và làm thủ tục hải quan như một mô giới hải quan. Đại lý (Agent), Là bên trung gian, làm cầu nối giữa người gửi hàng và người chuyên chở, hoặc giữa người chuyên chở và người nhận hàng. Họ nhận được sự ủy thác của chủ hàng (hoặc của hãng chuyên chở) để thực hiện các công việc như: nhận hàng, giao hàng, làm thủ tục hải quan, lưu kho…trên cơ sở hợp đồng ủy thác.
2 Downloaded by ANH BACH (bachvan15@gmail.com) lOMoARcPSD|39150642 Người gom hàng (Cargo Consolidator), Người gom hàng sẽ gom các lô hàng l攃ऀ (LCL) thành một lô hàng nguyên (FCL) để tận dụng hết sức chứa của một container và giảm cước phí vận tải. Trong trường hợp là người gom hàng, người giao nhận chính là người chuyên chở đối với bên gửi hàng, đồng thời là người gửi hàng đối với bên chuyên chở thực sự. Người chuyên chở (Carrier), Người giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở, tức là người giao nhận trực tiếp ký kết hợp đồng vận tải với người gửi hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hóa từ nơi này đến nơi khác. Người giao nhận đóng vai trò là người thầu chuyên chở (Contracting Carrier), nếu anh ta ký kết hợp đồng nhưng không trực tiếp chuyên chở.
Nếu họ đảm nhận luôn việc vận chuyển thì được gọi là người chuyên chở thực tế (Actual Carrier). Người kinh doanh vận tải đa phương thức (Mutimodal Transport Operator), Trong trường hợp này, người giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt hay vận tải “từ cửa tới cửa” (door-to-door), lúc này, họ phải chịu trách nhiệm về hàng hóa trong suốt quá trình chuyên chở.4 Vận tải bằng container đường biển - Lợi ích của vận chuyển container đường biển + Tạo ra một đơn vị vận chuyển đồng nhất bảo vệ hàng hóa tốt hơn, giảm thiểu việc hàng hóa bị mất khuyến khích cho hoạt động “door to door”, tăng hiệu quả và tiết kiệm chi phí vận tải. + Đối với chủ hàng bảo quản tốt hàng hóa một cách hữu hiệu tình trạng mất cắp. Chủ hàng có thể không phải đóng kiện như thế sẽ tiết kiệm được chi phí.
Bên cạnh đó việc bốc hàng nhanh gọn sẽ rút ngăn được thời gian vận chuyển hàng hóa. Chủ hàng còn có thể nhận được ưu đãi từ chủ tàu “Free time”. + Đối với hãng tàu tiết kiệm được thời gian để tăng số chuyến đi trong năm (chi phí xếp dỡ giảm 30%); tận dụng tối đa dung tích của tàu, ít bị khiếu nại hơn. + Đối với người giao nhận tập trung được hàng hóa và giao nhận thuận lợi hơn, khi vận tải đa phương thức cũng thuận lợi hơn, ngoài ra cũng giảm thiểu được các khiếu nại từ chủ hàng.5 Cơ sở pháp lý của hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển 3 Downloaded by ANH BACH (bachvan15@gmail.1 Liên quan đến buôn bán quốc tế Các quy phạm pháp luật quốc tế - Công ước Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán quốc tế ( công ước viên 1980) + Luật của các nước thành viên của công ước 1980.
- Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển, ký tại Brussels ngày 25/08/1924. - Nghị định thư sửa đổi Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển như nghị định Visby 1986. - Công ước Liên hợp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển 1987, các quy phạm pháp luật quốc tế là cơ sở pháp lý quan trọng để các nước tham gia ký kết công ước sẽ cam kết thực hiện đúng theo công ước. Các văn bản pháp luật trong nước: Trong nước cũng có nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vận tải, xếp dỡ, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu như: - Nghị định của chính phủ số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hành hóa quốc tế.
- Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 05/09/2007 quy định chi tiết Luật thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics - Nghị định 25CP, 200CP, 330CP-Chính phủ: + Căn cứ vào Luật tổ chức chính phủ 25/12/2001 + Căn cứ luật thương mại 14/06/2005 + Căn cứ Luật hàng hải ngày 14/06/2005 + Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ thương mại. + Theo quyết định của Bộ trưởng bộ giao thông vận tải: quyết định số 2106 (32/8/1997) liên quan đến việc xếp dỡ, giao nhận và vận chuyển hàng hóa tại cảng biển Việt Nam. Như vậy, nhà nước ta cũng đã xác định và xây dựng được một hệ thống các quy phạm pháp luật về hoạt động kinh doanh buôn bán quốc tế một cách đồng bộ, đầy đủ và phù hợp để điều chỉnh các hoạt động ngoại thương diễn ra thuận lợi, nhằm đảm bảo lợi ích của các bên một cách tốt nhất.2 Liên quan đến vận tải 4 Downloaded by ANH BACH (bachvan15@gmail.com) lOMoARcPSD|39150642 - Ngày 24/08/1980 một hội nghị của Liên hợp quốc họp tại Geneva đã thông qua công ước của Liên hợp quốc về vận tải hàng hóa đa phương thức quốc tế (UN Convention on the International Multimodal Transport of Goods, 1980) hay còn gọi là công ước 1980. - Công ước đã định nghĩa vận tải đa phương thức là việc chuyên chở bằng ít nhất hai phương thưc vận tải khác nhau trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức, theo đó hàng hóa được người vận tải đa phương thức nhận trách nhiệm để đưa từ một địa điểm đến giao ở một địa điểm thuộc nước khác.
Các vận tải đa phương thức như: Vận tải đường biển- vận tải hàng không, Vận tải ô tô- hàng không, Vận tải đường sắt- ô tô, Vận tải đường sắt- đường bộ-vận tải nội thủy-đường biển và Cầu lục địa. - Có các hình thức kinh doanh vận tải đa phương thức sau: + Người kinh doanh vận tải đa phương thức có tàu biển + Người kinh doanh vận tải đa phương thức không có tàu biển + Người kinh doanh không có phương tiện vận tải nào, có thể là người giao nhận, người môi giới hải quan, đôi khi có người kinh doanh kho hay công ty bốc xếp. Người kinh doanh không có phương tiện vận tải nào chuyên làm vận tải đa phương thức, chuyên kí kết hợp đồng kết nối các phương tiện vận tải.