CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠI LÝ LÀM THỦ TỤC HẢI QUAN 1. Khái quát chung về đại lý làm thủ tục hải quan 1. Sự cần thiết khách quan của đại lý làm thủ tục hải quan trong nền kinh tế Nền kinh tế ngày càng phát triển, các hoạt động thương mại diễn ra càng phong phú và đa dạng. Trong thương mại quốc tế, nhu cầu mua bán, giao nhận vận tải hàng hoá của các tổ chức, cá nhân hết sức đa dạng và cũng có nhiều doanh nghiệp giao nhận vận tải, bảo hiểm… cung cấp các sản phẩm dịch vụ của mình ra thị trường.
Người có nhu cầu sử dụng các sản phẩm loại này, đặc biệt là các tổ chức kinh tế lớn, mặc dù luôn nhận được thông tin về các doanh nghiệp cung cấp, nhưng họ không thể đánh giá hết khả năng của nhiều doanh nghiệp có cùng một loại sản phẩm để lựa chọn doanh nghiệp cung cấp tốt hơn hoặc cùng một sản phẩm của những doanh nghiệp có uy tín trên thị trường, sản phẩm nào có mức phí rẻ hơn, phù hợp hơn, chính vì vậy đã xuất hiện các nhà môi giới, các nhà đại lý làm thay những việc đó cho họ. Sự xuất hiện nhiều ngành nghề mới đã cho phép xã hội phát triển tốt hơn, nhưng các ngành nghề này lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Những nhà trung gian xuất hiện trong sản xuất, lưu thông hàng hóa vừa giải quyết những vướng mắc phát sinh, vừa tạo điều kiện cho sản xuất tiêu dùng phát triển. Mặt khác, do chuyên môn hóa nên những người trung gian sẽ xây dựng một hệ thống các mối quan hệ chuyên sâu, thu thập nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu mà các nhà sản xuất kinh doanh không thể có được.
Đại lý chính là một trong những hình thức trung gian thương mại như vậy. Ở các nước trên thế giới, đại lý hải quan chuyên nghiệp trong loại hình xuất nhập khẩu đã rất phổ biến, đây là một khâu trong chuỗi dịch vụ giao 4 Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính nhận hàng hóa mà nhiều nước đã áp dụng rất hiệu quả. Ở Việt Nam, khái niệm đại lý hải quan được xuất hiện lần đầu tiên tại Luật Hải quan 2001. Tuy có hiệu lực từ 01/01/2002 nhưng đến ngày 16/06/2005 Chính Phủ mới ban hành Nghị định số 79/2005/NĐ-CP (đã được thay thế bởi Nghị định số 14/2011/NĐ-CP ban hành ngày 16/02/2011 và có hiệu lực từ ngày 01/04/2011) quy định về điều kiện đăng ký và hoạt động của đại lý hải quan, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 80/2011/TT-BTC hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 14/2011/NĐ-CP.
Có thể nói, hệ thống văn bản pháp luật trên bước đầu đã tạo cơ sở pháp lý cho Đại lý hải quan phát triển, hoạt động có hiệu quả và có tính chuyên nghiệp. Trong một thời gian dài đã có không ít các doanh nghiệp còn chưa hiểu đúng và chưa biết sử dụng các dịch vụ của Đại lý hải quan, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam đã không thành công hoặc không thu được kết quả như mong muốn, phần lớn các doanh nghiệp xuất nhập khẩu vẫn trực tiếp tham gia vào việc giao nhận và thực hiện thủ tục hải quan; tỷ lệ hàng hóa được thông quan thông qua doanh nghiệp Đại lý hải quan còn rất thấp. Việc này cũng khó khăn cho cơ quan hải quan vì không ít doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp mới thành lập còn chưa có nhiều kiến thức về thủ tục hải quan nên khai hải quan còn lúng túng, mất nhiều thời gian, đôi khi có nhiều sai sót dẫn đến thời gian làm thủ tục kéo dài, không đạt hiệu quả.
Vì vậy, mặc dù đã ra đời hơn 10 năm nhưng nhìn chung hoạt động đại lý hải quan ở Việt Nam vẫn mang tính tự phát, hoạt động chưa đúng với ý nghĩa của nó, công việc khai báo vẫn mang tính thủ công, trình độ của nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan còn nhiều hạn chế, doanh nghiệp đại lý làm thủ tục hải quan hoạt động còn manh mún và chưa thực sự phát triển mạnh. 5 Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính 1. Khái niệm và đặc trưng cơ bản của đại lý làm thủ tục hải quan 1. Khái niệm về đại lý làm thủ tục hải quan Ngày nay, ở mỗi quốc gia khác nhau có các định nghĩa khác nhau về đại lý hải quan và cách gọi cũng có sự khác nhau như ở Indonexia gọi là “công ty môi giới hải quan”, Philippines là “môi giới hải quan”, Trung Quốc là “xí nghiệp khai thuê hải quan”, Hàn Quốc là “công ty môi giới hải quan”, ở Hoa Kì là “đại lý hải quan”, ở Việt Nam là “đại lý làm thủ tục hải quan”.
Mặc dù khác nhau về tên gọi, nhưng cơ bản đều có chung một ý nghĩa, đó là, đại lý hải quan là người thay mặt chủ hàng để làm thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu theo ủy quyền và các công việc khác có liên quan theo thỏa thuận hợp đồng. Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định về đại lý như sau: “Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại” [50, Điều 3]; “Đại lý thương mại là hoạt động thương mại theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý để nhận thù lao” [50, Điều 166]. Như vậy, đại lý thương mại không chỉ liên quan đến hoạt động mua bán đơn thuần mà còn bao gồm cả hoạt động cung ứng các dịch vụ kèm theo (như dịch vụ trong các lĩnh vực vận tải, bảo hiểm, giao nhận hàng hóa, làm thủ tục hải quan, giám định hàng hóa…). Đại lý thương mại là bên thứ ba, hỗ trợ hoạt động thương mại của các bên còn lại được nhanh chóng, thuận lợi và phát triển.
Ở Việt Nam, đại lý hải quan là doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại Điều 20 Luật Hải quan năm 2014, thay mặt chủ hàng thực hiện việc khai hải quan; nộp, xuất trình bộ hồ sơ hải quan có liên quan đến lô 6 Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định và thực hiện toàn bộ hoặc một phần các công việc liên quan đến thủ tục hải quan theo thỏa thuận trong hợp đồng ký với chủ hàng. Khái niệm về đại hải quan cũng được cụ thể trong Nghị định 14/2011/NĐ-CP, theo đó, đại lý làm thủ tục hải quan là thương nhân thay mặt người có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện trách nhiệm của người khai hải quan theo quy định tại Luật Hải quan và thực hiện các công việc khác về thủ tục hải quan theo thỏa thuận trong hợp đồng.2 Các đặc trưng cơ bản của đại lý làm thủ tục hải quan Thứ nhất, đại lý hải quan là một thương nhân, mang đầy đủ các đặc trưng của một thương nhân. Do đó đây là một tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình không chỉ theo quy định của Luật Hải quan mà còn phải tuân theo những quy định của Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan. Đại lý hải quan cũng mang đậm đặc trưng của một hình thức đại lý cung ứng dịch vụ.
Họ chính là một bên chủ thể trong hoạt động thương mại cung ứng dịch vụ, trong đó bên đại lý hải quan có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho người có hàng hóa xuất nhập khẩu và nhận thanh toán; bên chủ hàng có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Thứ hai, hoạt động của đại lý hải quan phát sinh trên cơ sở hợp đồng. Khi hoạt động thương mại ngày càng phát triển và trở nên phức tạp hơn, việc xảy ra xung đột giữa các bên cùng tham gia vào một vấn đề ngày càng phổ biến và gay gắt hơn. Từ đó dẫn đến quyền lợi của các bên không được đảm bảo, vì thế cũng như các hoạt động thương mại khác hoạt động đại lý hải quan được phát sinh trên cơ sở hợp đồng nhằm đảm bảo sự công bằng cho mỗi bên, hạn chế những tranh chấp phát sinh.
7 Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính Hợp đồng đại lý hải quan là thỏa thuận cung cấp dịch vụ được xác lập bằng văn bản hoặc các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm: điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu. Trong đó, bên đại lý có nghĩa vụ cung cấp dịch vụ cho bên khách hàng và nhận thanh toán; bên khách hàng có nghĩa vụ thanh toán cho đại lý và nhận các dịch vụ do đại lý cung cấp theo thỏa thuận. Xét về bản chất, hợp đồng đại lý cũng là một hợp đồng kinh tế song vụ bao gồm các điều khoản cơ bản như các bên tham gia hợp đồng, quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên, giá cả và phương thức thanh toán, … Các công việc về thủ tục hải quan do đại lý hải quan thực hiện phải được quy định cụ thể trong hợp đồng đại lý. Bên đại lý có trách nhiệm thực hiện các công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng ký với chủ hàng.
Hợp đồng đại lý có thể được ký đối với từng lô hàng xuất nhập khẩu cụ thể hoặc nhiều lô hàng xuất nhập khẩu. Khi khai báo đại lý hải quan phải ghi cụ thể số/ngày của hợp đồng vào từng tờ khai hải quan (ô dành cho đại lý). Cơ quan Hải quan không làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu mà đại lý không thực hiện theo hợp đồng ủy quyền của chủ hàng. Thứ ba, đại lý hải quan đứng tên trên tờ khai hải quan và sử dụng chữ kí số của mình để khai báo hải quan.
Đây chính là điểm khác biệt rõ rệt nhất giữa dịch vụ làm thủ tục hải quan của đại lý hải quan và dịch vụ “khai thuê” thông qua giấy giới thiệu. Tại Việt Nam, theo mẫu tờ khai HQ/2015-NK và HQ/2015-XK, khi khai báo thì tại mục số 4 phải ghi đầy đủ tên, địa chỉ, mã số thuế và số ngày kí hợp đồng đại lý hải quan.