CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TY TÀI CHÍNH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH 1.1 Những vấn đề cơ bản về công ty tài chính 1.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của công ty tài chính a. Khái niệm Công ty tài chính Công ty Tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm. Đặc điểm của công ty tài chính Tại Việt Nam, hiện có đầy đủ các tổ chức trung gian tài chính như ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty tài chính, công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư. Tuy nhiên, do độ mở nền kinh tế, việc các tổ chức này mở rộng quy mô hoạt động cũng như phát triển các loại hình dịch vụ đã là cho việc phân biệt các loại hình này trở nên khó khăn, đặc biệt là giữa các công ty tài chính và ngân hàng thương mại.
Hiện nay, các lĩnh vực hoạt động của công ty tài chính gần giống như ngân hàng chỉ có một số hạn chế như không có dịch vụ thanh toán và nhận tiền gửi dưới 1 năm. Tuy nhiên, việc phân định 2 loại hình này ta có thể dựa vào điểm khác biệt về đặc điểm theo quy định của Chính phủ. * Bản chất và phạm vi hoạt động Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm. Trịnh Bảo Châu Lớp: TCDN A – K12 Khóa luận tốt nghiệp [4] Học viện Ngân Hàng * Mức vốn pháp định Theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP, ngày 22/11/2006 của chính phủ, công ty tài chính được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày Nghị định 141/2006/NĐ-CP của chính phủ có hiệu lực và trước ngày 31/12/2008 thì phải có mức vốn pháp định là 300 tỷ đồng.
Công ty tài chính được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày 31/12/2008 thì phải có mức vốn pháp định là 500 tỷ đồng. * Thời gian hoạt động Thời gian hoạt động của công ty tài chính tối đa là 50 năm. Trường hợp cần gia hạn thời hạn hoạt động, phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận, nhưng mỗi lần gia hạn không quá 50 năm. * Cơ hội cạnh tranh và lợi ích mang lại Xét ở khía cạnh nào đó, các công ty tài chính sẽ chịu áp lực cạnh tranh ở mức độ thấp hơn so với ngân hàng.
Theo cam kết WTO, chỉ có ngân hàng thương mại nước ngoài và công ty tài chính nước ngoài mới được thành lập công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài. Tổ chức tín dụng nước ngoài chỉ được thành lập công ty tài chính liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư nước ngoài nhưng phải có tổng tài sản trên 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn. Trong khi ngân hàng hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công chúng thì công ty tài chính huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty. Vì thế, rủi ro xảy ra đối với các công ty tài chính chủ yếu là do nội bộ tập đoàn hay nhóm công ty gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng.
Khi các quan hệ kinh tế trong tập đoàn là minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thì khả năng xảy ra rủi ro là không lớn.2 Phân loại công ty tài chính Đi đôi với sự phát triển của thị trường tài chính, các công ty tài chính cũng phát triển đa dạng về loại hình với các chức năng chuyên biệt, phù hợp với nhu cầu và sự phát triển của nền kinh tế. Phân loại căn cứ vào tính độc lập Trịnh Bảo Châu Lớp: TCDN A – K12 Khóa luận tốt nghiệp [5] Học viện Ngân Hàng + Công ty tài chính độc lập: là một thực thể độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh của mình + Công ty tài chính trực thuộc Tập đoàn kinh tế: là một đơn vị của Tập đoàn kinh tế, được thành lập với tư cách là trung tâm tài chính, với chức năng điều hoà vốn cho Tập đoàn kinh tế, là công cụ để Tập đoàn kinh tế điều hoà, chi phối và điều chỉnh được hoạt động của các công ty thành viên, tạo mối liên kết chặt chẽ về tài chính cho toàn bộ Tập đoàn. Đồng thời, công ty tài chính còn có một nhiệm vụ quan trọng và xuyên suốt là huy động và tìm kiếm các nguồn vốn để tài trợ cho các dự án và hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty thành viên cũng như của Tập đoàn kinh tế. Phân loại căn cứ vào hình thức sở hữu + Công ty tài chính Nhà nước: là công ty tài chính được thành lập do nhà nước đầu tư vốn và tổ chức hoạt động kinh doanh.
+ Công ty tài chính thuộc tổ chức tín dụng: là công ty tài chính được thành lập từ nguồn vốn tự có của một tổ chức tín dụng, có tư cách pháp nhân và thực hiện hạch toán độc lập. + Công ty tài chính cổ phần: được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó các cá nhân và tổ chức cùng nhau góp vốn theo quy định của pháp luật. + Công ty tài chính liên doanh: được thành lập bằng vốn góp giữa bên Việt Nam bao gồm một hay nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp Việt Nam với bên nước ngoài bao gồm một hay nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh được kí kết. + Công ty tài chính 100% vốn nước ngoài: được thành lập bằng vốn góp của một hay nhiều tổ chức tín dungj nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Phân loại căn cứ vào đối tượng khách hàng + Công ty tài chính bán hàng: nghiệp vụ chủ yếu của công ty tài chính bán hàng là thực hiện món vay cho những người tiêu dùng để mua những món hàng từ một nhà bán lẻ hoặc một nhà sản xuất riêng. Các công ty tài chính này trực tiếp cạnh tranh với các ngân hàng về cho vay tiêu dùng và được người tiêu dùng sử Trịnh Bảo Châu Lớp: TCDN A – K12 Khóa luận tốt nghiệp [6] Học viện Ngân Hàng dụng bởi vì các món vay thường được thực hiện nhanh hơn và tiện lợi hơn tại nơi mua hàng. + Công ty tài chính người tiêu dùng: thực hiện những món vay cho những người tiêu dùng để mua những món hàng riêng. Các công ty tài chính người tiêu dùng là các công ty riêng biệt hoặc do các ngân hàng sở hữu.
Nói chung, các công ty này cho những người tiêu dùng nào vay mà không có tín dụng từ những nguồn khác và thu các lãi suất cao hơn. + Các công ty tài chính kinh doanh: cung cấp các dạng tín dụng đặc biệt cho các doanh nghiệp bằng cách mua những khoản tiền sẽ thu có chiết khấu (bao thanh toán), ngoài ra các công ty tài chính này còn chuyên môn hoá trong việc thuê thiết bị là những thứ họ mua và sau đó cho các nhà kinh doanh thuê một số năm.3 Vai trò của công ty tài chính Các công ty tài chính từ khi ra đời đã tỏ rõ ưu điểm của nó và ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống tài chính. Công ty tài chính góp phần đem lại lợi ích trọn vẹn và đầy đủ cho cả những người thừa vốn, những người cần vốn và cho nền kinh tế. - Công ty tài chính góp phần mang lại lợi ích trọn vẹn cho thị trường tài chính do hoạt động của nó giúp giảm bớt những chi phí thông tin và chi phí giao dịch cho nền kinh tế.
Để những người cho vay nhận ra được những người muốn vay và để những người muốn đi vay nhận ra được những người muốn cho vay là một điều khó khăn và đòi hỏi chi phí đắt tiền. Đồng thời ngoài những chi phí thông tin, quá trình thực tế cho vay cũng cần đến các chi phí giao dịch. Vì thế, các công ty tài chính với tính chuyên môn hoá và tinh thông trong nghề nghiệp, sẵn sàng đưa ra những dịch vụ tài chính tiện lợi với giá rẻ, góp phần đáp ứng đầy đủ, chính xác và kịp thời yêu cầu giữa người cần vốn và người có vốn, góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế. - Thị trường tài chính phát triển khiến cho sự cạnh tranh giữa các định chế tài chính ngày càng gay gắt, vì thế để tồn tại, bản thân các định chế tài chính trong đó có công ty tài chính phải đa dạng hoá, nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ Trịnh Bảo Châu Lớp: TCDN A – K12 Khóa luận tốt nghiệp [7] Học viện Ngân Hàng tài chính; thường xuyên thay đổi lãi suất một cách thích hợp làm cho nguồn vốn được tài trợ cho đầu tư tăng lên mức cao nhất.4 Hoạt động đầu tư của công ty tài chính Có thể thể nói công ty tài chính có đa dạng các hoạt động không khác gì các ngân hàng.
Trừ hoạt động thực hiện dịch vụ thanh toán, công ty tài chính tham gia cả hoạt động tín dụng, huy động vốn, đầu tư hay cả thu xếp vốn… Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài là đầu tư chứng khoán, nên ở phần này, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu khái quát hoạt động đầu tư của công ty tài chính. Hoạt động đầu tư của công ty tài chính là việc công ty sử dụng vốn tự có của mình và vốn ủy thác của Tập đoàn kinh tế, Chính phủ, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đem đi đầu tư trực tiếp hay đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp là việc công ty tài chính thực hiện đầu tư vốn vào các loại chứng khoán, dự án như hợp đồng hợp tác kinh doanh; thành lập công ty liên doanh, công ty cổ phần, công ty TNHH; hoặc đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp thông qua việc mua cổ phần hoặc góp vốn liên doanh. Bên cạnh đó, đầu tư chứng khoán cũng là hình thức mà công ty tài chính trực tiếp sử dụng vốn của mình để hoạt động.