CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm về công nghệ và chuyển giao công nghệ 1. Khái niệm công nghệ Trong thực tế có nhiều khái niệm khác nhau của công nghệ.
Tuỳ theo góc độ nghiên cứu, tiếp cận mà có các khái niệm khác nhau. Theo từ điển bách khoa Việt Nam tập 1 “Công nghệ là môn khoa học ứng dụng, nhằm vận dụng các quy luật của tự nhiên và nguyên lý khoa học, đáp ứng nhu cầu vật chất tinh thần của con người”. Công nghệ là phương tiện kĩ thuật, là sự thể hiện vật chất hoặc các tri thức ứng dụng khoa học. Công nghệ là một tập hợp các tri thức, các phương pháp dựa trên cơ sở khoa học và được sử dụng vào sản xuất trong các ngành sản xuất khác nhau để tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ [18, tr.
Trong một số tài liệu, công nghệ thường được hiểu là quá trình tiến hành một công đoạn sản xuất, là thiết bị để thực hiện một công việc nên nó thường đi theo cụm từ: quy trình công nghệ, thiết bị công nghệ, dây chuyền công nghệ. Cách hiểu này được định nghĩa theo quan điểm của Liên Xô trước đây “Công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh”. Theo quan niệm này công nghệ chỉ liên quan đến sản xuất vật chất. Mặc dù được sử dụng khá rộng, nhưng khái niệm công nghệ còn sử dụng chưa thống nhất.
Có khía cạnh đề cập đến khả năng làm ra đồ vật. Khía cạnh thứ hai, nhấn mạnh công nghệ là một sản phẩm của con người. Ở khía canh kiến thức thì lại bác bỏ quan niệm công nghệ là vật thể mà phải là kiến thức. Theo Trung tâm chuyển giao công nghệ khu vực Châu Á và Thái Bình Dương (The Asian and Pacific Centre for Transfer of Technology- APCTT) 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com coi công nghệ hàm chứa trong 4 thành phần: kỹ thuật (technoware), kĩ năng con người (humanware), thông tin (inforware) và tổ chức(orgaware).
Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asian and the Pacific- ESCAP) đưa ra khái niệm: Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, kĩ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”. Theo khái niệm này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ, mà khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất các lĩnh vực hoạt động của xã hội. Trong nhiều trường hợp khi cần thiết, người ta vẫn thừa nhận khái niệm công nghệ khác cho một mục đích nào đó.
Trong luật khoa học công nghệ Việt Nam “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kĩ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm” Trong khái niệm này cần lưu ý: Công nghệ là tập hợp chứ không phải là tổng số; nguồn lực bao gồm vật lực, nhân lực, tài lực; Sản phẩm bao gồm hữu hình và vô hình, dưới dạng vật thể và phi vật thể. * Các bộ phận cấu thành của một công nghệ - Công nghệ hàm chứa trong các vật thể; - Công nghệ hàm chứa trong kỹ năng công nghệ của con người làm việc trong công nghệ; - Công nghệ hàm chứa trong khung thể chế để xây dựng cấu trúc tổ chức; - Công nghệ hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hoá được sử dụng trong công nghệ [2, tr. Khái niệm chuyển giao công nghệ Theo luật chuyển giao công nghệ: Chuyển giao công nghệ (CGCN) là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ [18, điều 3]. Có những khái niệm mang tính rộng hơn, chuyển giao công nghệ là việc đưa kiến thức, kĩ thuật ra khỏi ranh giới nơi sản sinh ra nó.
Theo quan điểm quản lý công nghệ: Chuyển giao công nghệ là tập hợp các hoạt động thương mại và pháp lý nhằm làm cho bên nhận công nghệ có được năng lực công nghệ như bên giao công nghệ, trong khi sử dụng công nghệ đó vào một mục đích đã định. Theo quan điểm thương mại, chuyển giao công nghệ là hình thức mua và bán công nghệ trên cơ sở hợp đồng CGCN đã được thoả thuận phù hợp với các quy định của pháp luật. Bên bán có nghĩa vụ chuyển giao các kiến thức tổng hợp của công nghệ hoặc cung cấp các thiết bị máy móc, dịch vụ, đào tạo…kèm theo các kiến thức công nghệ cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, để tiếp thu sử dụng các kiến thức công nghệ đó theo các điều kiện đã thoả thuận ghi nhận trong hợp đồng chuyển giao công nghệ. Theo luật chuyển giao công nghệ: Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao sang bên nhận công nghệ [2, tr.
Như vậy, có thể hiểu khái niệm công nghệ một cách rộng hơn là: quá trình đưa công nghệ từ một môi trường này sang môi trường khác bằng mọi hình thức khác nhau. Cách hiểu hẹp hơn CGCN là mua bán thương mại: Nó gồm hai phần, phần cứng (máy móc, thiết bị), phần mềm (quy trình, công thức, bí quyết). Phạm trù chuyển giao công nghệ chủ yếu thuộc phần mềm của công nghệ, còn thiết bị máy móc thuộc về phần cứng được mua bán theo cách thương mại bình thường. Tuy nhiên, do phầm mềm được thể hiện thông qua các phương tiện, thiết bị nên CGCN phải giải quyết mối quan hệ giữa hai phần này với nhau.
19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo luật chuyển giao công nghệ, điều 18, chuyển giao công nghệ bao gồm: - Chuyển giao tài liệu về công nghệ; - Đào tạo cho bên nhận công nghệ nắm vững và làm chủ công nghệ theo thời hạn trong hợp đồng đã định; - Cử chuyên gia tư vấn kỹ thuật cho bên nhận công nghệ, đưa công nghệ vào sản suất với chất lượng sản phẩm đạt các chỉ tiêu và tến độ trong hợp đồng. Theo phân loại các hoạt động khoa học công nghệ thì có ba hoạt động KHCN chính là: Nghiên cứu triển khai, chuyển giao công nghệ và dịch vụ KHCN, tương ứng với ba loại hình hoạt động là các loại hình tổ chức (Hình 1) [8, tr. Có hai cách chuyển giao cơ bản: - Chuyển giao dọc: Chuyển giao từ khuc vực nghiên cứu và triển khai (R&D) vào khu vực sử dụng. Chuyển giao dọc có ưu điểm là mang đến cho bên nhận một công nghệ hoàn toàn mới, nhưng có độ rủi ro cao.
- Chuyển giao ngang: Công nghệ được chuyển giao đã vào thị trường. Nó có ưu điểm là rủi ro thấp hơn chuyển giao dọc, nhưng phải chấp nhận cạnh tranh. Về hình thức chuyển giao đang phổ biến 3 hình thức: - Chuyển giao công nghệ không kèm theo hợp đồng licence, trường hợp này không đòi hỏi giấy phép về quyền sử dụng, không ràng buộc pháp lý giữa hai bên. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Vị trí của chuyển giao công nghệ trong hoạt động khoa học công nghệ(cơ sở để phân loại tổ chức KHCN) Hoạt động KHCN Dịch vụ KHCN Đào tạo Nghiên cứu(R-D) Chuyển giao CN NC ứng dụng NC cơ bản Triển khai CN NCCB NC định thuần tuý hướng NC nền tảng(ĐTCB) NC chuyên đề - Chuyển giao có kèm theo hợp đồng licence. Đây là CGCN có kèm theo ràng buộc về pháp lý. - Chuyển giao công nghệ có phối hợp đầu tư vốn. Đây là trường hợp hai bên cùng ăn chia sản phẩm, lợi nhuận về kinh tế hay lợi ích xã hội.
Có 4 mức chuyển giao công nghệ khác nhau: - Trao kiến thức: Chuyển giao chỉ dừng lại ở việc huấn luyện, truyền đạt, hướng dẫn tư vấn. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Trao chìa khoá: Đây là cách nói hình tượng, bên chuyển giao hoàn thành lắp đạt thiết bị, hướng dẫn quy trình, công thức, bí quyết cho đến hoàn tất toàn bộ sản xuất. - Trao sản phẩm: Trường hợp này bên nhận muốn bên giao có thêm trách nhiệm. Trường hợp này rất phổ biến trong CGCN.
- Trao thị trường: Bên nhận gánh thêm phần trách nhiệm bàn giao một khu vực mà bên giao công nghệ đang có phát triển khả quan. Đây là phương thức dẫn đến sự phối hợp đầu tư và nó dễ dàng thoả thuận khi hai bên đều có quyền lợi, nghĩa vụ [10, tr. Khái niệm về mô hình trình diễn chuyển giao công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản Mô hình: là hình mẫu, điển hình hoá những mối quan hệ đặc trưng quan trọng nhất mang tính bản chất của các sự vật hiện tượng, của các quá trình diễn ra trong tự nhiên và trong đời sống xã hội [10, tr. Do tính chất điển hình hoá, nên khi nói đến mô hình người ta dễ hình dung ra những đặc trưng quan trọng nhất của sự vật hiện tượng và những mối liên hệ chủ yếu của bản thân sự vật đó.
Vì vậy, có thể thử nghiệm mô hình đó vào thực tiễn và nhân rộng nó trở thành phổ biến hoặc có thể thu hẹp, xoá bỏ nếu thấy mô hình đó kém hiệu quả, không phù hợp với thực tiễn. Mô hình trình diễn trong nuôi trồng thuỷ sản là điển hình hoá của công nghệ nuôi, nó có đặc trưng cơ bản: - Mô hình trình diễn nuôi trồng thuỷ sản ( NTTS) là một hình thức hoạt động cụ thể nào đó được tái tạo lại hoặc mới được tạo ra tại một điểm trong khu vực hất định nhằm làm mẫu để nghiên cứu, rút kinh nghiệm, tham quan học tập, từ đó có thể nhân ra diện rộng [5, tr. - Mô hình trình diễn nuôi trồng thuỷ sản ở dạng triển khai thử nghiệm hoặc sản xuất bán đại trà của công nghệ, hoặc ở diện mở rộng công nghệ 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong áp dụng bán đại trà và đại trà. Trong đó có bên giao và bên nhận: bên giao là các cơ quan nghiên cứu, đơn vị sự nghiệp, các đơn vị thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, bên nhận thường là nông dân ở vùng nông thôn có diện tích nuôi trồng.
Cơ quan làm chuyển giao công nghệ cho nông dân chính ở nông thôn thường là Trung tâm khuyến ngư, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các hội, chi hội, câu lạc bộ chuyên ngành nuôi trồng thuỷ sản.