CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY CÁC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay các dự án của Ngân hàng thương mại 1. Khái quát hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Cho vay là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Cho vay ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội.
Quan hệ này được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, cho vay được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Về sau, cho vay đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ.
Tại Việt Nam các quyết định 1627/2001_QĐ_NHNN ngày 31/12/2001 của thống đốc ngân hàng về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng đã định nghĩa “cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Định nghĩa này được các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác áp dụng để làm tiền đề căn bản cho các hoạt động cho vay của mình. Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại Các ngân hàng cung cấp nhiều loại hình cho vay khác nhau tương ứng với sự đa dạng trong mục đích vay vốn của khách hàng : từ việc mua ô tô và sắm sửa các phương tiện sinh hoạt, chuẩn bị cho cuộc sống mới, tài trợ cho quá trình học tập của bản thân cũng như con em đến việc xây nhà ở và các tòa nhà văn phòng. Chúng ta có thể sắp xếp danh mục cho vay rất đa dạng của 5 ngân hàng bằng cách phân nhóm theo mục đích sử dụng vốn vay, tức là khách hàng dự định sẽ làm gì với khoản vay.
Theo tiêu chí loại hình cho vay, có thể có các hình thức cho vay như sau: Thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay mà qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội lên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong một khoảng thời gian xác định. Giới hạn đó được gọi là hạn mức thấu chi. Thấu chi là hình thức cho vay ngắn hạn, linh hoạt, phần lớn không có đảm bảo và thường được sử dụng với các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn. Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến, đặc biệt áp dụng với các khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên, không đủ điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi.
Khi khách hàng phát sinh nhu cầu vay vốn của ngân hàng, khách hàng sẽ phải làm đơn trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay cùng các điều kiện khác liên quan để ngân hàng tiến hành phân tích, xét duyệt khách hàng xem có đủ điểu kiện cho vay hay không. Nếu khoản vay được chấp thuận, khách hàng sẽ được ký kết hợp đồng cho vay với các điều khoản cho vay như quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và các yêu cầu bảo đảm … Đứng ở góc độ của ngân hàng, nghiệp vụ cho vay từng lần tạo thuận lợi để ngân hàng có thể kiểm soát được từng khoản vay tách biệt. Cho vay theo hạn mức: Là nghiệp vụ cho vay mà theo đó ngân hàng sẽ thỏa thuận cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể được tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ, và là số dư tối đa tại thời điểm tính.
Nếu là hạn mức cuối kỳ thì dư nợ tại thời điểm cuối kỳ không được vượt quá hạn mức. Còn đối với hạn mức trong cả thời kỳ thì trong kỳ khách hàng không được có dư nợ vượt quá hạn mức. Hạn mức được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. 6 Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng hóa.
Doanh nghiệp có thể thiếu vốn khi mua hàng và ngân hàng đồng ý cho vay để mua hàng và thu nợ khi doanh nghiệp bán được hàng. Với hình thức này, giá trị hàng hóa mua vào với hóa đơn hợp lệ sẽ là đối tượng được ngân hàng cho vay và thu nhập từ bán hàng sẽ là nguồn để chi trả cho ngân hàng. Việc cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng hóa nên đòi hỏi doanh nghiệp và ngân hàng phải nghiên cứu kỹ kế hoạch lưu chuyển hàng hóa để dự đoán dòng ngân quỹ. Phương pháp cho vay này thường được áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệp hoặc các doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn, quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng.
Cho vay trả góp: Đây là hình thức tín dụng mà theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng thỏa thuận. Cho vay trả góp thường được áp dụng với các khoản cho vay trung và dài hạn, cho vay mua các tài sản cố định. Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức cho vay qua các tổ chức trung gian như : hội phụ nữ, hội sản xuất, hội nông dân … Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu trong quá trình cho vay sang các tổ chức trung gian như khâu thu nợ, phát tiền vay … Hình thức này thường được áp dụng đối với nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, giúp tiết kiệm chi phí và thời gian cho ngân hàng. Theo tiêu chí thời gian cho vay, có thể chia thành các hình thức sau đây: Cho vay ngắn hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn ngắn, thường là dưới 12 tháng.
Được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn lưu động của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Cho vay trung hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng, sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm trang thiết bị, sửa chữa tài sản cố định, đổi mới công nghệ hay mở rộng sản xuất kinh doanh. 7 Cho vay dài hạn: Là các khoản cho vay có thời gian dài (từ 5 năm trở lên và có thể kéo dài đến 20 – 30 năm), để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn như xây dựng cơ sở hạ tầng, mua máy móc thiết bị, phương tiện vận tải quy mô lớn… Theo tiêu chí tài sản đảm bảo cho khoản vay có thể có các hình thức: Cho vay có tài sản đảm bảo: Khi để được chấp thuận cho vay, người đi vay phải đáp ứng điều kiện về tài sản đảm bảo. Bao gồm có 2 loại là cho vay cầm cố (khi bên đi vay phải chuyển quyền quản lý và sử dụng tài sản cầm cố cho bên cho vay/bên nhận cầm cố) và cho vay thế chấp (khi bên đi vay được giữ lại tài sản thế chấp, chỉ chuyển quyền sở hữu tài sản thế chấp cho bên cho vay/bên nhận thế chấp để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ).
Cho vay không có tài sản đảm bảo: Người đi vay không cần thiết phải có tài sản đảm bảo mới được chấp thuận cho vay. Cho vay dự án của Ngân hàng thương mại: 1. Khái niệm dự án: Dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau được thực hiện trong một khoảng thời gian có hạn, với những nguồn lực đã được giới hạn; nhất là nguồn tài chính có giới hạn để đạt được những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, làm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng mà dự án hướng đến. Thực chất, dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định.
Nội dung dự án: Một dự án khi được thành lập bao giờ cũng có một hoặc nhiều mục tiêu rõ ràng nhằm hình thành các giá trị kinh tế, đem lại hiệu quả xã hội trong tương lai. Để có thể hoàn thành được nội dung này, khi thành lập dự án phải hiểu một dự án đầu tư cần có các nội dung để xem xét như sau: *Xác định các chi phí thực hiện dự án: 8 Chi phí vốn đầu tư: + Chi phí vốn đầu tư ban đầu = Chi phí đầu tư cố định + Chi phí đầu tư lưu động + Chi phí đầu tư cố định trong xây dựng cơ bản thường được chia làm 5 nhóm: - Chi phí đất và chuẩn bị địa điểm - Chi phí xây lắp - Chi phí mua sắm máy móc và thiết bị công nghệ - Chi phí kiến thiết cơ bản khác - Chi phí dự phòng + Chi phí lưu động: Đó là chi phí cho điện tự dùng, trả lương công nhân và bảo hiểm, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị và các chi phí khác. Chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất được tính cho một kì sản xuất kinh doanh của dự án. Trong dự án thủy điện có thể có các chi phí sản xuất sau: - Chi phí trả lương công nhân và chi phí quản lý hành chính chung - Chi phí điện, nước, dầu nhớt phục vụ sản xuất - Chi phí duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa - Chi phí nguyên, nhiên liệu - Chi phí khác * Để đảm bảo chất lượng dự án, quản lý được tính hiệu quả của dự án sau khi hoàn thành, ta phải xem xét các chỉ tiêu kinh tế, tài chính của các dự án.
Thông thường ta xác định các chỉ tiêu sau: Giá trị hiện tại ròng (Net Present Value - NPV): Giá trị hiện tại ròng là hiệu số của giá trị hiện tại của dòng tiền vào và giá trị hiện tại của dòng tiền ra. Công thức tính NPV như sau: 9 NPV = → NPV > 0: dự án khả thi. → NPV < 0: dự án không khả thi. Tỷ suất thu lợi nội tại (Internal Rate of Return - IRR) Suất thu lợi nội tại là lãi suất khi dùng làm hệ số chiết khấu để tính quy đổi dòng tiền tệ về giá trị hiện tại sẽ bằng không.
NPV = Một dự án đáng giá theo suất thu lợi nội tại khi: IRR ≥ MARR Trong đó: MARR là suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được Chỉ số lợi ích/chi phí (Benefit Cost Ratio - B/C) Chỉ số lợi ích/chi phí của một dự án được xác định một cách tổng quát như là tỷ số của giá trị tương đương của lợi ích trên giá trị tương đương của dự án.