ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam chúng ta hiện nay đang trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự phát triển vƣợt bậc của xã hội và khoa học kỹ thuật đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa. Nƣớc ta là nƣớc đang phát triển công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đang đƣợc thúc đẩy mạnh mẽ kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của các nhà máy, công ty, các khu công nghiệp, khu công nghệ cao các nhà máy phát triển ngày càng nhiều đƣợc xây dựng lên. Mặt khác song hành với sự phát triển của kinh tế cũng kéo theo sự phát triển của chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời ngày càng tăng lên các nhà máy xây dựng cầu đƣờng, khai thác, thủy điện, nhiệt điện ngày càng phát triển cả về quy mô. Có các nhà máy đã và đang đƣợc xây dụng vận hành, trong quá trình thực hiện và vận hành nhà máy này đã tác động không nhỏ đến các thành phần của môi trƣờng nhƣ đất, nƣớc, không khí, hệ sinh thái …, khi mà môi trƣờng ngày càng nhạy cảm trƣớc mọi tác động.
Chính vì vậy các nhà máy cần đƣợc đánh giá tác động môi trƣờng trƣớc khi thực hiện để nhằm giảm thiểu, khắc phục hoặc thay đổi quy trình công nghệ sản xuất các tác động của nhà máy trong quá trình thực hiện. Vì vậy chúng ta cần tiến hành đánh giá tác động môi trƣờng của các nhà máy là vấn đề cấp thiết để phần nào bảo vệ môi trƣờng, tránh các tác động trực tiếp và gián tiếp đến môi trƣờng. Trong đó phát triển ngành năng lƣợng và các vấn đề liên quan đến ngành năng lƣợng đang đƣợc chú trọng. Hiện nay, ở trên thế giới nói chung và Việt Nam chúng ta nói riêng đã có rất nhiều nhà máy thủy điện và nhiệt điện.
Đây là một dạng năng lƣợng đặc biệt nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng điện để phát triển, xây dựng, sản xuất và sử dụng điện trong đời sống thƣờng ngày của con ngƣời. Trƣớc bối cảnh, tốc độ nhu cầu tiêu thụ điện của Việt Nam tăng nhanh trong những năm đầu thế kỷ 21, bình quân 13%/năm; nhu cầu điện hàng ngày dao 2 động nhiều (chênh lệch công suất giờ cao điểm và giờ thấp điểm của hệ thống trên 2 lần). Ở Việt Nam hiện nay các công trình thủy điện vừa và nhỏ có rất nhiều nhà máy đang hoạt động. Bên cạnh đó, các công trình thủy điện đã tác động rất lớn về môi trƣờng và tài nguyên, đây là vấn đề quan trọng và cần đƣợc các tổ chức, các chuyên gia thẩm định về môi trƣờng khi các công trình thủy điện xây dựng và đi vào hoạt động.
Việc đánh giá tác động môi trƣờng thực tế sau khi các nhà máy thủy điện đi vào vận hành thƣờng ít đƣợc quan tâm. Vì vậy tôi chọn đề tài “Đánh giá tác động môi trường của Thủy điện Đông Khùa sau 3 năm hoạt động (2016 – 2018) tại tỉnh Sơn La” để nhằm đánh giá hiện trạng môi trƣờng của nhà máy thủy điện Đông Khùa trong 3 năm trở lại đây. Nhằm đƣa ra giải pháp giảm thiểu và khắc phục các tác động của nhà máy gây ra đối với môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội của thủy điện Đông Khùa. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về đánh giá tác động môi trƣờng 1. Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) Trên thế giới : Đánh giá tác động môi trƣờng là một quá trình nghiên cứu nhằm dự báo các kết quả môi trƣờng của nhà máy phát triển quan trọng, trong đó có hậu quả đối với cuộc sống của con ngƣời tại khu vực nhà máy của chính nhà máy và các họa động phát triển của nhà máy. Đồng thời đánh giá tác động môi trƣờng cũng phải xác định các biện pháp giảm thiểu đến mức tối thiểu các hoạt động tiêu cực đến môi trƣờng (theo UNEP-ROAP, 1998). Đối với Việt Nam Đánh giá tác động môi trƣờng ở việt nam đƣợc quan tâm đến lần đầu tiên tại luật bảo vệ môi trường 1994, qua nhiều lần đổi mới và đề cập hiện nay đánh giá tác động môi trƣờng đã và đang cập nhật và hoàn chỉnh theo xu thế phát triển của các nhà máy hiện nay.
Đến nay qua 3 lần đổi mới bộ luật, thì đánh giá tác động môi trƣờng đƣợc luật bảo vệ môi trƣờng 2014 định nghĩa nhƣ sau: đánh giá tác động môi trƣờng là việc phân tích, dự báo, tác động môi trƣờng của nhà máy đầu tƣ cụ thể để đƣa ra biện pháp bảo vệ môi trƣờng khi triển khai nhà máy đó. Lịch sử nghiên cứu về đánh giá tác động môi trường * Trên thế giới Ngƣời ta lấy năm 1969, năm thông qua Đạo luật chính sách môi trƣờng của Mỹ (NEPA), làm thời điểm ra đời của Đánh giá tác động môi trƣờng (ĐTM). Bởi vì trong Đạo luật này có những điều quy định, yêu cầu cần phải tiến hành đánh giá tác động môi trƣờng của các hoạt động lớn, hoạt động quan trọng có thể gây tác động đáng kể đến môi trƣờng. 4 Theo tác giả Phạm Ngọc Hồ, Hoàng Xuân Cơ việc chọn thời điểm nhƣ vậy là chấp nhận đƣợc, vì hai lý do sau: Thứ nhất, môi trƣờng đƣợc con ngƣời nhận thức từ rất lâu, nhƣng thuật ngữ môi trƣờng và vấn đề môi trƣờng cũng chỉ mới đƣợc quan tâm và đặt ra từ những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ trƣớc.
Thứ hai, một số thuật ngữ dùng trong công tác đánh giá tác động môi trƣờng đều có liên quan đến quá trình tuân thủ Đạo luật chính sách môi trƣờng của Mỹ, đƣợc ra đời nhƣ: - Kiểm kê hiện trạng môi trƣờng (Environmental Inventory -EI) là hoạt động nhằm mô tả toàn diện về môi trƣờng đang tồn tại ở vùng dự định đặt nhà máy hoặc vùng có xảy ra các hoạt động về môi trƣờng. Việc kiểm kê phải đề cập đến các yếu tố lý hoá của môi trƣờng nhƣ thổ nhƣỡng, địa chất, địa hình, khí hậu, nƣớc mặt, nƣớc ngầm, chất lƣợng không khí…; Các yếu tố môi trƣờng sinh học nhƣ động thực vật, đa dạng sinh học, các hệ sinh thái…; Môi trƣờng nhân văn nhƣ khảo cổ, di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di sản…; Môi trƣờng kinh tế xã hội nhƣ dân số và phân bố dân số, mức sống, điều kiện giáo dục, hệ thống hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật cùng các dịch vụ công cộng khác. - Đánh giá tác động môi trƣờng (Environmental Impact Assessment- EIA, tiếng Việt viết tắt là ĐTM) là sự xác định, đánh giá các tác động (hay ảnh hƣởng) có thể xảy ra của các nhà máy tới môi trƣờng. - Tƣờng trình hay báo cáo tác động môi trƣờng (Environmental Impact Submission - EIS), là văn bản tƣờng trình tất cả kết quả của công tác đánh giá tác động môi trƣờng đã tiến hành đối với một nhà máy.
- Mặt khác, điều 102 của Đạo luật chính sách môi trƣờng Mỹ còn quy định về đánh giá tác động môi trƣờng gồm 3 điểm cụ thể sau đây: + Yêu cầu tất cả các cơ quan, công sở Liên bang phải tiếp cận đánh giá tác động môi trƣờng một cách có hệ thống, liên ngành trong quá trình Quy hoạch và ra các quyết định có khả năng tác động đến môi trƣờng. 5 + Yêu cầu tất cả các cơ sở xác định, phát triển các phƣơng pháp và thủ tục nhằm đảm bảo các giá trị môi trƣờng cùng với việc xem xét các khía cạnh kinh tế - kỹ thuật, ra quyết định thực thi các nhà máy phát triển. + Chỉ ra sự cần thiết đối với việc soạn thảo báo cáo đánh giá tác động môi trƣờng, xác định nội dung cần có của báo cáo này. Sau Mỹ, Đánh giá tác động môi trƣờng đƣợc áp dụng ở nhiều nƣớc.
Nhóm các nƣớc sớm nhất gồm: Nhật, Singapo, Hồng Kông (1972), tiếp theo là Canada (1973), Úc (1974), Đức (1975), Pháp (1976), Philippin (1977), Trung Quốc (1979). Nhìn chung sự ra đời và phát triển của ĐTM có thể tóm lƣợc theo từng giai đoạn khác nhau. Mỗi giai đoạn, công tác ĐTM có tính đặc thù riêng và từng bƣớc đƣợc hoàn thiện. - Giai đoạn trƣớc năm 1970: Các báo cáo ĐTM còn nhiều hạn chế trong phân tích khía cạnh kinh tế và thiếu những trang thiết bị kỹ thuật hay công nghệ kỹ thuật.
Nghiên cứu thƣờng tập trung trên những diện hẹp. Báo cáo ĐTM không đƣợc trình nộp lên cơ quan cấp trên hay thông báo rộng rãi cho công chúng. - Giai đoạn 1970: Có nhiều tiến bộ trong phân tích kinh tế, phân tích chi phí, lợi tức; nhấn mạnh một cách hệ thống những sự tăng lên và mất đi, và cả sự phân bố trong nhà máy; củng cố thông qua hoạch định, chƣơng trình và kinh phí dự trù; những hậu quả môi trƣờng và xã hội không đƣợc chỉ ra. - Giai đoạn 1970-1975: Báo cáo ĐTM thƣờng tập trung việc mô tả và dự đoán sự thay đổi về sinh thái, hƣớng sử dụng đất; nhiều cơ hội nghiêm túc cho việc thiết lập những trƣờng hợp trƣớc công chúng và trình bày tóm tắt lại báo cáo ĐTM.
Nhấn mạnh những nhu cầu và cung cách thiết kế của nhà máy và những phƣơng pháp đo đạc, những hạn chế của nhà máy. - Giai đoạn 1975 – 1980: Báo cáo ĐTM tập trung nhiều khía cạnh, bao gồm ĐTM về xã hội của những thay đổi trong cấu trúc hạ tầng của cộng đồng, 6 những dịch vụ và lối sống; việc trình bày trƣớc công chúng trở nên cần thiết cho việc hoạch định nhà máy: gia tăng việc nhấn mạnh về việc điều chỉnh nhà máy trong quá trình xem xét nhà máy; phân tích những rủi ro của những trang thiết bị nguy hiểm và những thiết bị chƣa rõ kỹ thuật sử dụng. - Giai đoạn 1980 – 1992: Báo cáo ĐTM thƣờng đƣa ra những thiết lập tốt hơn nhằm liên kết giữa đánh giá tác động và hoạch định chính sách, ứng dụng trong giai đoạn quản lý; nghiên cứu tập trung vào việc theo dõi hay giám sát những ảnh hƣởng trong quá trình đánh giá nhà máy và sau đó. - Giai đoạn sau 1992: Vai trò của ĐTM trong thực hiện những mục tiêu của phát triển bền vững.
Cung cấp ĐTM tới chính sách và kế hoạch sử dụng đất. Chiến lƣợc đánh giá môi trƣờng, vai trò trong việc hỗ trợ giữa chiến lƣợc môi trƣờng và chính sách. Lịch sử nghiên cứu về đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam Cùng với sự phát triển của đánh giá tác động môi trƣờng của các nhà máy trên thế giới. Đánh giá tác động môi trƣờng ở Việt Nam sớm triển khai.
Ngay từ những năm 1980 nhiều nhà khoa học bắt đầu tiếp cận với công tác ĐTM thông qua các hội thảo và các khoá đào tạo do các tổ chức Quốc tế thực hiện (UNEP, UNU).