Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu. - Chương 2: Những vấn đề lý luận về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo và pháp luật về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển NLTT. - Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển NLTT ở Việt Nam. - Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển NLTT ở Việt Nam.
9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Nghị định thư Kyoto của Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu có hiệu lực thi hành từ ngày 16 tháng 02 năm 2005. Nội dung quan trọng của Nghị định thư Kyoto là đưa ra chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính có tính ràng buộc pháp lý đối với các nước phát triển và cơ chế giúp các nước đang phát triển đạt được sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững thông qua thực hiện ''Cơ chế phát triển sạch'' (CDM), trong đó có lĩnh vực năng lượng. Kể từ khi Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto có hiệu lực thi hành, việc sử dụng NLTT để đáp ứng các nhu cầu về năng lượng cho sản xuất và tiêu dùng được quan tâm ở nhiều nước.
Đặc biệt, sau Hội nghị Liên Hợp quốc về phát triển bền vững tại Rio de Janeiro Brazil tháng 6 năm 2012, thì phát triển và sử dụng NLTT là vấn đề trọng tâm nhằm đạt được mục tiêu là cân bằng lại lượng khí thải trong môi trường ở mức độ có thể ngăn chặn những tác động nguy hiểm cho sự tồn tại và phát triển của con người. Cho đến thời điểm hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển NLTT, trong đó có một số công trình nghiên cứu đề cập đến quy phạm pháp luật để khuyến khích, hỗ trợ phát triển NLTT, với những góc nhìn, nội dung khác nhau. Việc nghiên cứu các công trình khoa học có liên quan mật thiết đến đề tài “Pháp luật về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển NLTT ở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thực hiện luận án, là cơ sở để đánh giá, tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn đã được nghiên cứu, giải quyết những vấn đề còn để ngỏ, chưa được giải quyết, qua đó gợi mở có tính định hướng cho những nội dung cần nghiên cứu tiếp theo mà luận án cần tập trung giải quyết. Những công trình khoa học này là tài liệu tham khảo bổ ích, có giá trị khoa học cho tác giả trong quá trình nghiên cứu, thực hiện công trình nghiên cứu ở cấp độ tiến sĩ.
Qua tìm hiểu, nghiên cứu, nghiên cứu sinh nhận thấy đã có một số công trình nghiên cứu với nội dung liên quan mật thiết đến đề tài luận án như sau: 10 1. Tình hình nghiên cứu lý luận về biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo 1. Tình hình nghiên cứu khái niệm về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ Khái niệm “khuyến khích” và “hỗ trợ” được sử dụng tại một số văn bản quy phạm pháp luật, với những cách tiếp cận khác nhau và chưa có định nghĩa chuẩn, để áp dụng thống nhất, có văn bản quy phạm sử dụng cụm từ “Luật khuyến khích” như Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994, được sửa đổi năm 1998 [50, 51], xong có văn bản sử dụng cụm từ “Luật hỗ trợ” như Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 [58]. Về Điều ước quốc tế thì có các Hiệp định song phương về khuyến khích và bảo đảm đầu tư được ký giữa Việt Nam với các nước có quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Dưới góc độ pháp luật về đầu tư, khuyến khích và bảo hộ đầu tư được xác định là một trong những biện pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thu hút vốn đầu tư trong nước có hiệu quả, đặc biệt là trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới đều có điểm chung là cần vốn đầu tư như một yếu tố thiết yếu giúp nền kinh tế có thể tồn tại và phát triển. Các biện pháp khuyến khích đầu tư được hiểu là tất cả những quy định do nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi hoặc tạo ra những lợi ích nhất định cho các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào nên kinh tế, trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của nhà đầu tư. Bảo hộ đầu tư là những cam kết của nước tiếp nhận đầu tư về việc không trưng thu hoặc quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư hoặc tước quyền sở hữu của nhà đầu tư mà không có căn cứ pháp luật, hoặc cam kết nhà đầu tư được chuyển lợi nhuận ra nước ngoài sau khi thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật. Dưới góc độ pháp luật về doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp được xác định là một trong những biện pháp để nhà nước tạo động lực, điều kiện để doanh nghiệp trong nước có khả năng trụ vững, phát triển trong nền kinh tế thị trường.
Cũng tương tự như các biện pháp khuyến khích đầu tư, các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp được hiểu là tất cả những quy định do nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi hoặc tạo ra những lợi ích nhất định cho các doanh nghiệp trong nước khi tham gia vào thị trường, trên cơ sở hài hòa giữa lợi ích của nhà nước và doanh nghiệp trong nước, nhưng phải trên nguyên tắc tôn trọng quy luật thị trường, phù hợp với điều ước quốc tế. 11 Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu, tài liệu nào phân tích, làm rõ một cách thấu đáo các khái niệm này để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, áp dụng thống nhất thuật ngữ trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Tình hình nghiên cứu lý luận về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo Đến thời điểm hiện nay, trong nước và quốc tế đã có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về chính sách năng lượng nói chung và chính sách để phát triển năng lượng sạch, NLTT nói riêng. Các tài liệu đều thống nhất quan điểm tiếp cận đối với vấn đề này trên cơ sở nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải bồi thường”, “Người hưởng lợi từ tài nguyên, môi trường phải trả tiền”, “Kích thích lợi ích kinh tế” và “Công quyền can thiệp”.
Tại Việt Nam, có nhiều tài liệu nghiên cứu về các biện pháp khuyến khích đầu tư, các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp và nghiên cứu phát triển nguồn điện từ NLTT trong quy hoạch nguồn điện, chuyển dịch năng lượng…, các nghiên cứu này chủ yếu về khoa học tự nhiên, xã hội, chính sách mà chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về khoa học pháp lý về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển NLTT. Tuy nhiên, đây đều là các công trình nghiên cứu, các tài liệu có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành lý luận về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển NLTT được đề cập tại luận án này. Thứ nhất, dưới góc độ về khoa học tự nhiên: Đến nay, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu khoa học của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ và các học giả nghiên cứu, khẳng định Việt Nam là quốc gia có tiềm năng lớn để phát triển NLTT, có nhiều công trình khoa học xây dựng được phương pháp tính toán tối ưu cơ cấu các nguồn năng lượng nói chung và nguồn năng lượng cho sản xuất điện nói riêng, trong đó có nguồn điện từ NLTT. Bên cạnh đó, có một số đề tài nghiên cứu, đánh giá vai trò của các nguồn NLTT trong hệ thống điện, sự tác động của chúng về mặt kinh tế, môi trường trong sản xuất điện năng, dự báo ngắn hạn, dài hạn nhu cầu năng lượng cho Việt Nam, thành lập cơ sở dữ liệu về công nghệ năng lượng bao gồm cả công nghệ năng lượng truyền thống và công nghệ NLTT, xây dựng hệ thống năng lượng tham chiếu, phân tích chi phí - lợi ích của ngành năng lượng tại Việt Nam thông qua phát triển nhiều kịch bản tương lai, điển hình là Đề tài “Nghiên cứu phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo trong quy hoạch nguồn điện Việt Nam đến năm 2030” của Nghiên cứu sinh Phạm Thị Thanh Mai, bảo vệ tại Đại học Bách Khoa Hà Nội năm 2017 [65].
12 Thứ hai, dưới góc độ khoa học kinh tế Nhiều công trình đề tài nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã chỉ ra sự cần thiết phải phát triển NLTT, các tài liệu được thực hiện và hoàn thành ở những quốc gia khác nhau, tại các thời điểm khác nhau, xong đều có chung quan điểm, đó là: - Trong hoạt động đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực năng lượng, các quốc gia không chỉ quan tâm đến những lợi ích, thu nhập mà còn phải có những chính sách để thúc đẩy, phát triển NLTT vì trách nhiệm bảo vệ môi trường. - Các nước cần phải tăng cường hợp tác nội bộ, học tập kinh nghiệm, đối mặt với những thách thức, xây dựng các biện pháp, công cụ để hỗ trợ phát triển NLTT vì mục tiêu giảm phát thải nhà kính, tăng thu nhập và việc làm cho người dân địa phương, tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động thực thi pháp luật về thuế tại các địa phương, xây dựng bộ tài nguyên cơ sở đa dạng phục vụ cho công tác quản lý, hỗ trợ nghiên cứu; giảm thiểu rủi ro trong việc cung ứng NLSC và sự bất ổn định giá cả do các loại tài nguyên sơ cấp này tác động, cung cấp cơ sở hạ tầng, linh hoạt trong việc sử dụng các công cụ kinh tế bằng việc sử dụng công nghệ kỹ thuật phù hợp, có khả năng làm giảm đáng kể và có thể loại bỏ ô nhiễm môi trường từ việc sử dụng dịch vụ điện năng, đóng góp xây dựng cộng đồng chung theo hướng bền vững. - Mỗi quốc gia nên xây dựng riêng cho mình khung chính sách, hệ thống quy phạm pháp luật để khuyến khích đầu tư phát triển các dự án NLTT, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.