CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái quát về Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm về Doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, và thông tư số 16/2013/TT -BTC ban hành ngày 08/02/2013 về việc hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu ngân sách Nhà nước theo Nghị quyết số 02/NQ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa được nhận dạng như sau: “Doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, bao gồm cả Chi nhánh, đơn vị phụ thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác xã (sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng) được gọi chung là doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa”. Theo Điều 6 Nghị định 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/3/2018 doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: Siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: 7 Bảng 1.
Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Quy Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa mô Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng Lĩnh Số lao Số lao Số lao Doanh nguồn Doanh nguồn Doanh nguồn vực động động động thu vốn thu vốn thu vốn Nông, Khôn Khôn Khôn lâm Khôn Khôn Khôn Khôn Khôn Khôn g quá g quá g quá nghiệp g quá g quá g quá g quá g quá g quá 10 100 200 và thủy 3 tỷ 3 tỷ 20 tỷ 20 tỷ 200 tỷ 100 tỷ người người người sản Công Khôn Khôn Khôn Khôn Khôn Khôn Khôn Khôn Khôn nghiệp g quá g quá g quá g quá g quá g quá g quá g quá g quá và xây 10 100 200 3 tỷ 3 tỷ 20 tỷ 20 tỷ 200 tỷ 100 tỷ dựng người người người Thươn Khôn Khôn Khôn Khôn Khôn Khôn Khôn Khôn Khôn g mại g quá g quá g quá g quá g quá g quá g quá g quá g quá và dịch 10 50 100 10 tỷ 3 tỷ 100 tỷ 50 tỷ 300 tỷ 100 tỷ vụ người người người (Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/3/2018) 1. Đặc điểm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV là một loại hình doanh nghiệp nên nó mang đầy đủ đặc điểm của một doanh nghiệp. Ngoài ra DNNVV còn có đặc điểm riêng sau: Thứ nhất, DNNVV tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế và hoạt động ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Các DNNVV đều có chi phí đầu tư thấp, chủ yếu là để tận dụng lao động và nguồn nguyên vật liệu tại chỗ, do vậy, các doanh nghiệp này có thể dễ dàng chuyển đổi phương án sản xuất, mặt hàng kinh doanh cũng như loại hình doanh nghiệp để nhanh chóng thu hồi vốn hoặc đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Thứ hai, với bộ máy quản lý gọn nhẹ, tính năng động và linh hoạt cao nên các DNNVV tiết kiệm được phần lớn chi phí, và nhanh chóng đưa ra những quyết định kinh doanh kịp thời, không phải qua các khâu làm vuột mất cơ hội kinh doanh. Thứ ba, nguồn vốn ít, năng lực tài chính còn nhỏ bé: Do có quy mô nhỏ nên hầu hết vốn kinh doanh của các DNNVV được huy động từ người thân, bạn bè. Nhìn 8 chung khả năng tiếp cận các nguồn tài chính khác còn hạn chế. Thông thường để huy động vốn cho kinh doanh, các doanh nghiệp này phải huy động từ các nguồn tài chính phi chính thức với lãi suất cao.
Điều đó đã gây không ít khó khăn hạn chế hiệu quả kinh doanh, phát triển cũng như hoạt động của doanh nghiệp. Thứ tư, DNNVV có khả năng nắm bắt và ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại và thường có những sáng kiến đổi mới công nghệ để phù hợp với quy mô nhỏ và vừa của mình. Trong thời đại bùng nổ khoa học công nghệ như hiện nay thì các doanh nghiệp không chỉ phải cạnh tranh về sản phẩm, về thị phần tiêu thụ mà còn phải cạnh tranh gay gắt về công nghệ kỹ thuật. Việc đổi mới dây chuyền công nghệ của DNNVV đòi hỏi nguồn vốn bổ sung không nhiều lại có thể thu hồi vốn nhanh.
Lợi thế này giúp cho các DNNVV nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá bán giúp tồn tại trên thị trường. Tuy nhiên, do tài chính thấp nên các DNNVV khó có thể tiếp cận được với công nghệ mới, các sản phẩm đưa ra thị trường không có tính cạnh tranh. Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế DNNVV có vai trò quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, kể cả với những nước có trình độ phát triển cao. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt như hiện nay, các nước đều chú ý hỗ trợ các DNNVV nhằm huy động tối đa nguồn lực và hỗ trợ cho công nghiệp lớn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nền kinh tế.
Vai trò của DNNVV được thể hiện dưới các mặt sau: + DNNVV giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế: Mức đóng góp của các DNVVV vào sự tăng trưởng nền kinh tế là khá lớn. Bên cạnh đó, các DNNVV luôn giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế dù khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng. Đây là nhóm khách hàng có khả năng chống chọi với khủng hoảng, với những rủi ro chung của nền kinh tế khá tốt. Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu kinh tế cũng như các nhà quản lý đều thống nhất rằng khu vực DNNVV là nền tảng để phát triển kinh tế xã hội.
9 + DNNVV tạo nên công ăn việc làm cho người lao động, góp phần giảm thất nghiệp: Các DNNVV tham gia kinh doanh ở nhiều ngành nghề của nền kinh tế nên có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều đối tượng lao động ở nhiều vùng miền khác nhau. Ở Việt Nam, DNNVV sử dụng rất nhiều lao động đặc biệt là lao động tại địa phương và khu vực nông thôn. Do vậy, DNNVV đã tạo rất nhiều việc làm mới cho xã hội. Nhờ đó, các DNNVV đã góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp cho nền kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư.
+ DNNVV góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường: Với quy mô nhỏ, cơ cấu gọn nhẹ, DNNVV có khả năng điều chỉnh hoạt động một cách linh hoạt. Giá thành được coi là một trong những vũ khí lợi hại nhất của DNNVV nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường luôn “thiên biến vạn hoá”. Trong khi các Doanh nghiệp lớn vất vả với những kế hoạch cắt giảm chi phí để hạ giá thành, thì những công ty nhỏ có thể liên tục đưa ra nhiều mức giá linh hoạt khác nhau phù hợp với túi tiền của mọi khách hàng. + DNNVV góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là đối với khu vực nông thôn: Với quy mô nhỏ, DNNVV có một số lợi thế như dễ thành lập, dễ gia nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh.
Những lợi thế này đã tạo điều kiện cho các DNNVV phát triển được nhiều ngành nghề trên nhiều địa bàn, nhằm khai thác tiềm năng và thế mạnh về đất đai, tài nguyên và lao động của từng vùng, đặc biệt là công nghiệp chế biến và nông – lâm – ngư nghiệp. Nhờ vậy, kinh tế nông thôn Việt Nam đã và đang dịch chuyển sang công nghiệp chế biến và dịch vụ phục vụ nông nghiệp, đây chính là điều kiện để chuyển dịch kinh tế nền kinh tế cả nước. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa Cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất của NHTM nói chung và các chi nhánh NHTM nói riêng.
Cho vay chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro nhất. Có thể nói, cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể (NHTM và người vay), trong đó một bên là chi nhánh NHTM chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia (người vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn (gốc và lãi) cho bên cho vay vô điều kiện theo thời gian đã thỏa thuận. Theo khoản 16, Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 thì: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi ”. Như vậy, có thể hiểu rằng, hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng là DNNVV sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Các hình thức cho vay Tùy điều kiện và các nhu cầu của các khoản vay mà ngân hàng phân loại hoạt động cho vay DNNVV theo các tiêu chí sau: * Theo thời hạn vay - Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có kỳ hạn đến 12 tháng. Loại cho vay thường áp dụng với các nhu cầu về vốn lưu động cho các cá nhân, doanh nghiệp. 11 - Cho vay trung và dài hạn: là loại cho vay có kỳ hạn trên 12 tháng. Trong đó, loại cho vay có kỳ hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng là cho vay trung hạn, trên 60 tháng là cho vay dài hạn.
Cho vay trung, dài hạn chủ yếu để phục vụ các nhu cầu đầu tư mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ sở hạ tầng… * Theo mức độ tín nhiệm của khách hàng - Cho vay không có tài sản bảo đảm (tín chấp): là loại cho vay hoàn toàn chỉ dựa vào hiệu quả của phương án hoặc từ dự án kinh doanh và mức độ tín nhiệm, uy tín của khách hàng.